Hãy sống tham vọng và dại dột
Filed Under (DSI - Chia sẻ của các thành viên) by admin on 22-12-2008
Tagged Under : Hãy sống hết mình
Câu chuyện đầu tiên - “kết nối các sự kiện”
Tôi bỏ học ở trường đại học Reed sau sáu tháng nhưng vẫn ở lại loanh quanh đến tận 18 tháng nữa mới thực sự ra đi. Tại sao tôi lại chọn bỏ học?
Mọi thứ bắt đầu từ lúc tôi chào đời. Mẹ đẻ của tôi là một sinh viên trẻ mới tốt nghiệp đại học, chưa chồng. Vì thế, bà quyết định mang tôi cho làm con nuôi. Bà tin rằng nên để những người có bằng đại học mang tôi về nuôi và đã sắp xếp sẵn mọi thủ tục cho con với hai vợ chồng luật sư. Chẳng thể ngờ, đến lúc tôi chào đời, họ lại đổi ý muốn có con gái.
Thế là, bố mẹ tôi bây giờ, lúc đó đang trong danh sách chờ đợi, nhận được một cú điện thoại lúc nửa đêm: “Có một bé trai mới sinh chưa ai nhận. Ông bà có muốn nhận không?” Họ vui mừng đồng ý ngay. Khi mẹ đẻ mới biết bố mẹ tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học, thậm chí cha tôi còn chưa tốt nghiệp cấp ba, bà nhất định không ký giấy cho con nuôi và chỉ nhượng bộ khi bố mẹ tôi hứa sau này sẽ cho tôi vào đại học.
17 năm sau, tôi vào đại học thật. Nhưng tôi lại ngu ngốc chọn một trường đắt tiền ngang với Stanford, và toàn bộ số tiền ít ỏi của bố mẹ tôi, những người lao động chân tay, đổ vào trả tiền học.
Sau sáu tháng, tôi thấy việc đầu tư như vậy thật vô nghĩa. Tôi không biết mình muốn làm gì và cũng không biết trường đại học sẽ giúp mình như thế nào. Thế mà tôi vẫn ngồi đây, tiêu tốn những đồng tiền bố mẹ bỏ bao mồ hôi công sức cả đời mới kiếm được. Tôi quyết định bỏ học và tin rằng, mọi thứ rồi cũng được thu xếp ổn thoả. Lúc đó thật sự rất run, nhưng bây giờ nhìn lại, tôi hiểu rằng, đấy là quyết định đúng đắn nhất của đời mình. Ngay khi quyết định bỏ học, tôi đã bỏ những môn bắt buộc mà mình không thích và bắt đầu kiếm các lớp có vẻ thú vị hơn.
Tôi không được ở ký túc xá, vì vậy tôi ngủ ở sàn nhà phòng các bạn, trả vỏ lon Coca để lấy 5 cent mua thức ăn, và đi bộ hơn 10 cây số dọc thành phố vào các ngày chủ nhật để đến ăn một bữa làm phúc hàng tuần của đền Hare Krishna. Tôi thật sự thích cuộc sống đó. Và chính những gì đã xem, nghe, thấy, khám phá bằng trí tò mò và tri giác của tuổi trẻ…lúc đó đã biến thành những kinh nghiệm quý báu cho tôi sau này.
Đại học Reed lúc đó có trường học dạy thiết kế thư pháp, có lẽ là đỉnh nhất trong cả nước. Mọi mẫu chữ trên các poster, biển hiệu… xung quanh trường đều rất được thiết kế rất đẹp.
Lúc ấy, coi như đã bỏ học và không phải học những môn bắt buộc nữa, tôi quyết định chọn lớp học về mẫu chữ mỹ thuật để tìm hiểu cung cách thiết kế. Tôi đã tìm hiểu về các mẫu chữ serif, san serif, về các khoảng cách khác nhau giữa các mẫu chữ, về các phương cách làm cho kiểu in (typography). Những kiểu cách vẽ chứ đó thật gợi cảm, tinh tế, giàu lịch sử. Chúng mê hoặc tôi từ lúc nào không hay.
Những thứ viển vông này chắc chẳng đem lại một ứng dụng thực tế nào cho cuộc đời tôi. Thế nhưng 10 năm sau, khi bắt đầu thiết kế chiếc máy tính MacIntosh đầu tiên, tất cả quay trở lại. Chúng tôi đã dồn hết kiến thức của mình vào thiết kế chiếc Mac này. Đó là chiếc máy đầu tiên có kiểu chữ rất đẹp.
Nếu tôi đã không bước chân vào lớp học thiết kế chữ hồi đại học, chiếc Mac bây giờ sẽ không bao giờ có các kiểu dáng chữ và các phông chữ có khoảng cách đều nhau như thế này. Và vì thế, có lẽ cũng chẳng máy tính cá nhân nào trên thế giới có các kiểu chữ này (vì Windows cóp hoàn toàn từ Mac). Nếu không bao giờ bỏ học, tôi đã không đi học lớp thiết kế chữ này, và các máy tính cá nhân cũng không có được những mẫu chữ tuyệt diệu hôm nay. Dĩ nhiên, khi còn ngồi ghế nhà trường, làm sao tôi có thể kết nối các sự việc theo hướng như vậy? Nhưng 10 năm sau nhìn lại, tất cả đều rất rõ ràng.
Dĩ nhiên, các bạn không thể kết nối các sự việc khi nhìn về phía trước, chỉ có thể làm như vậy khi ta nhìn lại một quãng đường. Vì vậy, các bạn phải tin tưởng rằng các hành vi, sự kiện của hiện tại có một mối liên quan nào đó đến tương lai. Bạn phải tin tưởng vào một điều gì đó - linh tính, số phận, cuộc đời, thuyết nhân quả…bất kỳ cái gì. Lối suy nghĩ này chưa bao giờ làm tôi thất vọng, và chính nó đã tạo nên tất cả những khác biệt trong cuộc đời mình.
Câu chuyện thứ hai: Tình yêu và sự mất mát
Tôi đã rất may mắn khi tìm thấy điều mình thực sự yêu thích khi còn trẻ tuổi. Woz và tôi bắt đầu thiết kế máy Apple trong gara ô tô của bố mẹ tôi hồi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc rất chăm chỉ, và trong vòng 10 năm sau, Apple đã trưởng thành. Từ một bộ sậu chỉ có hai người biến thành một tập đoàn trị giá 2 tỷ đô la với hơn 4.000 nhân viên. Chúng tôi đã cho ra đời sản phẩm đỉnh cao nhất của mình -máy MacIntosh - năm trước đó, lúc tôi mới bước sang tuổi 30.
Rồi tôi bị đuổi việc. Làm sao có thể bị đuổi việc khỏi một công ty bản thân mình sáng lập nên? Chuyện là thế này. Khi Apple mở rộng, chúng tôi thuê một người mà tôi nghĩ là rất tài năng để điều hành công ty cùng mình. Một hai năm đầu, mọi thứ đều ổn. Nhưng rồi những định hướng tương lai có điểm bất đồng, cuối cùng, chúng tôi cãi nhau. Hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, tôi thì ra khỏi công ty, khi 30 tuổi.
Tâm huyết của cả một thời kỳ đã tiêu tan, tôi hoàn toàn tuyệt vọng.
Một vài tháng sau đó, không biết phải làm gì, tôi cảm thấy đã không phải với các bậc tiền bối, đã bỏ lỡ cơ hội khi nó đến tầm tay. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce và cố gắng nói lời xin lỗi vì đã làm hỏng mọi chuyện. Là một trường hợp thất bại mà công chúng đều biết đến, thậm chí tôi còn nghĩ đến việc bỏ chạy khỏi thung lũng nơi mình sống.
Nhưng rồi có một điều mà dần dần tôi nhận ra - tôi vẫn rất yêu những việc mình làm! Những biến đổi ở Apple đã không hề làm giảm sút niềm đam mê đó. Tôi đã bị từ chối, nhưng vẫn yêu. Vì thế, tôi quyết định làm lại.
Lúc đó, tôi không thể nhận thức được rằng, chính việc bị đuổi khỏi Apple là điều tuyệt vời nhất đã diễn ra trong đời. Những gánh nặng của vinh quang được thay thế bởi cảm giác nhẹ nhỏm khi bắt đầu lại từ đầu và không chắc chắn về mọi thứ. Tôi được tự do bước vào thời kỳ sáng tạo nhất của cuộc đời.
Trong vòng 5 năm sau đó, tôi bắt đầu một công ty tên là NeXT, một công ty khác tên Pixar, và đem lòng yêu một người phụ nữ tuyệt vời sau này đã trở thành vợ tôi.
Pixar bắt đầu sản xuất các phim hoạt hình sử dụng công nghệ máy tính đầu tiên của thế giới, bộ phim Câu Chuyện Đồ Chơi (Toy Story), và bây giờ đã trở thành một trong những xưởng sản xuất phim hoạt hình thành công nhất thế giới.
Vật đổi sao dời, cuối cùng thì Apple lại mua lại NeXT và tôi trở về Apple, sử dụng chính những công nghệ đã phát triển ở NeXT vào phục hưng lại cho Apple. Tôi và Laurence đã cùng nhau xây dựng một gia đình đầm ấm.
Tôi tin chắc rằng, những điều kỳ diệu trên đã không xảy ra nếu tôi không bị đuổi khỏi Apple. Đó là một liều thuốc đắng, nhưng đúng là bệnh nhân cần có nó. Đôi lúc cuộc đời quẳng một cục gạch vào đầu bạn. Đừng mất niềm tin.
Tôi tin rằng, điều duy nhất tiếp sức cho mình là việc tình yêu những việc mình làm. Bạn cũng vây, phải tìm thấy niềm đam mê của mình. Đối với công việc hay với người tình đều thế cả. Công việc sẽ chiếm một phần lớn cuộc sống của bạn, và cách duy nhất để thực sự toại nguyện là làm được những điều bạn nghĩ là vĩ đại nhất. Và cách duy nhất để làm được những điều vĩ đại là yêu việc mình làm. Nếu chưa tìm thấy thì bạn cứ tiếp tục tìm đi. Đừng bằng lòng với sự ổn định. Giống như trong tình yêu vậy, bạn sẽ biết ngay khi bạn tìm thấy nó. Và cũng giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào, nó sẽ chỉ tốt đẹp thêm theo năm tháng mà thôi. Bạn cứ tìm đến khi bao giờ thấy, đừng dừng lại.
Câu chuyện thứ ba: Cái chết
Khi 17 tuổi, tôi đọc một câu rằng: “Nếu ngày nào bạn cũng sống như thể đó là ngày tận thế của mình, đến một lúc nào đó bạn sẽ đúng”. Câu nói đó để lại ấn tượng lớn với tôi, và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi ngày để tự hỏi mình: “Nếu hôm nay là ngày cuối của đời mình, liệu mình có muốn làm những việc hôm nay mình sắp làm không?” Và khi nhận ra câu trả lời là “không” ngày này qua ngày khác, tôi biết mình cần thay đổi điều gì đó.
Ghi nhớ rằng “một ngày nào đó gần thôi, mình sẽ chết đi” là một bí quyết vô cùng quan trọng giúp tôi quyết định những lựa chọn lớn trong đời.
Bởi vì hầu hết mọi thứ - những mong đợi của người khác, lòng kiêu hãnh, nỗi lo sợ xấu hổ khi thất bại - tất cả đều phù phiếm trước cái chết, để lại những gì thật sự quan trọng. Luôn nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh sa vào cái bẫy suy nghĩ rằng mình không muốn mất đi cái gì đó. Ta đã hoàn toàn vô sản rồi. Chẳng có lý gì để không đi theo tiếng gọi trái tim.
Một năm trước đây, tôi bị chẩn bệnh ung thư. Tôi đi soi người lúc 7h30 sáng và phát hiện có một khối u trong tuyến tuỵ. Lúc đó, tôi còn chẳng hiểu tuyến tuỵ là gì. Bác sĩ bảo rằng chắc là một loại ung thư không chữa được, và tôi chỉ sống được 3-6 tháng nữa thôi. Bác sĩ khuyên tôi về nhà sắp xếp lại mọi công việc, có thể ngầm hiểu như thế là chuẩn bị mọi thứ trước cái chết. Có nghĩa là phải gói gọn những điều muốn nói với các con trong 10 năm tới trong vòng một vài tháng. Có nghĩa là đảm bảo mọi thứ được sắp xếp ổn thoả để cả mọi thứ đều dễ dàng suôn sẻ khi tôi ra đi.
Cả ngày hôm đó tôi nghĩ đến lời chẩn bệnh. Tối đó tôi lại ngồi khám, người ta cho đèn nội soi vào cổ họng xuống dạ dày và ruột non, lấy kim châm vào tuyến tuỵ để lấy ra một số tế bào từ khối u. Lúc đó tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi kể lại lúc đó khi các bác sĩ soi các tế bào dưới kính hiển vi họ đã bật khóc vì phát hiện ra đây là một trong số rất ít loại u ác tính có thể chữa bằng phẫu thuật. Tôi đã qua phẫu thuật và giờ thì khoẻ rồi.
Không ai muốn chết cả. Kể cả những người muốn lên thiên đàng cũng không muốn chết ở đó. Thế mà cái chết lại là điểm đến của tất cả chúng ta. Không ai có thể trốn khỏi nó. Có lẽ đó cũng là điều hợp lẽ, bởi Cái chết là sản phẩm tuyệt vời nhất của Cuộc sống. Nó là yếu tố làm thay đổi cuộc sống. Nó gạt bỏ cái cũ và mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ “cái mới” là các bạn, nhưng không xa nữa bạn sẽ trở thành cái cũ và bị loại bỏ. Thứ lỗi cho tôi nếu nói như thế là quá gay cấn, nhưng mà đúng như vậy đấy.
Thời gian của các bạn là có hạn, nên đừng phí phạm bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng rơi vào bẫy của sự độc đoán, giáo điều của người khác. Đừng để những ý kiến ồn ào xung quanh đánh chìm tiếng nói bên trong bạn. Và quan trọng nhất, hãy có dũng cảm để đi theo tiếng gọi của trái tim và linh tính. Chúng biết bạn thực sự muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu thôi.
Khi tôi còn trẻ, có một tuyển tập tuyệt diệu tên là Catelogue toàn trái đất, được coi như cuốn sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi. Một tác giả tên Stewart Brand đã viết cuốn sách này, và ông đã làm cho nó vô cùng sống động bằng những chấm phá lãng mạn của mình trong đó. Đó là những năm cuối thập kỷ 60, khi chưa có máy tính cá nhân, nên được tạo nên hoàn toàn bằng máy chữ, kéo, và máy chụp ảnh polaroid. Nó giống như một Google trên giấy vậy: rất lý tưởng, tràn đầy các công cụ hay ho và ý tưởng vĩ đại.
Steward và nhóm của ông đã cho ra đời một vài số Catelog toàn trái đất. Số cuối cùng ra vào giữa những năm 70, lúc đó tôi bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở bìa sau cuốn tuyển tập có bức ảnh một con đường ở nông thôn vào một sớm mai, cảnh vật rất thích hợp cho những người thích phiêu lưu tự đi bộ du hành. Ở dưới có dòng chữ: “Hãy cứ thèm khát và dại dột” (Stay hungry. Stay foolish). Đó là lời tạm biệt của họ trước khi kết thúc. Và tôi luôn ước muốn điều đó cho bản thân. Và bây giờ, khi các bạn tốt nghiệp và bước đến những chân trời mới, tôi cũng chúc các bạn như vậy.
Hôn phối giữa Thương mại Điện tử và Bán hàng trên Truyền hình có thành công?
Filed Under (DSI-Ecomerce) by dearboy9x9 on 12-12-2008
Tagged Under : bán hàng, công nghệ, khó khăn, thương mại điện tử, truyền hình
Một anh có sẵn tài chính, công nghệ, sản phẩm kết hợp với anh truyền thông, mô hình kết hợp này đang từng bước thể hiện hiệu quả của mình.
Thương mại Điện tử tại Việt Nam có cơ hội phát triển hay không? Rất nhiều đối tác đã đặt câu hỏi với tôi trước khi họ thất bại trong lĩnh vực mới này. Có lẽ tôi đã quá cứng nhắc khi đưa ra những tiêu chuẩn nhất định đối với mô hình kinh doanh của họ. Và cũng có lẽ những tiêu chuẩn quá dài để họ đủ kiên nhẫn đọc hết trước khi quẳng vào sọt rác.
Bạn đã nghe nhiều về xu hướng hội tụ trong Công nghệ Thông tin, trong bài viết này tôi giới thiệu về Hội tụ đối với lĩnh vực Thương mại Điện tử. Mô hình là sự kết hợp của Kênh Web Thương mại điện tử và bán hàng trên Truyền hình.
Đến đây chắc hẳn bạn thốt lên”Tưởng gì”. “Đúng rồi!” Bạn cũng đã quen thuộc với hình thức bán hàng qua Info TV. Hình ảnh những cô dẫn chương trình với nụ cười rạng rỡ luôn giúp bạn thấy thoải mái sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi. Tuy nhiên hình thức này có bán được nhiều hàng hoá không? Mỗi ngày cũng chỉ có 18 giờ khách hàng của bạn có thể xem truyền hình. Thời lượng thì có hạn nhưng số lượng sản phẩm thì quá nhiều. Sự hạn chế này khiến chi phí quảng bá trên Truyền hình trở lên khá lớn đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vậy liệu doanh thu có đủ bù đắp cho chi phí?
Trong những năm gần đây, các Website Thương mại Điện tử mọc lên như nấm sau cơn mưa hội nhập Kinh tế. Tuy nhiên bao nhiêu Website thực sự có thu đủ bù chi? Khi hầu hết đều chỉ giải quyết bài toán trưng bày hàng hoá trên Internet và mong chờ mọi người nhấn chuột vào Website của mình.
Vậy điều gì khiến bài toán tạo ra tiền lại trở lên khó khăn với các Doanh nghiệp? Phải chăng họ đều gặp vấn đề Mô hình Kinh doanh thiếu tính khả thi.
Tại sao nên kết hợp hai kênh
Việc kết hợp 2 kênh nhằm mục đích bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhiều Doanh nghiệp tham gia đăng hàng hoá trên Web Thương mại điện tử.
Mua hàng qua Truyền hình là nói đến bán hàng thông qua các nhân vật. Trong cái màn hình nhỏ nhắn, những khuôn mặt, khung cảnh và hàng hoá hiện ra vào cùng giờ hàng tuần. Ti vi thường được đặt trong phòng khách hoặc phòng ngủ và nhiều người quen biết nhau cùng xem. Người xem có thể ngồi, nằm, … hoặc bất cứ tư thế nào khiến họ cảm thấy thoải mái. Và họ có thể lựa chọn nhiều kênh truyền hình khác nhau chỉ với một vài nút bấm. Người tiêu dùng có thể gọi điện thoại và đặt mua hàng hoá. Tuy nhiên họ thụ động nhận các thông tin về hàng hoá được phát ra từ Ti vi. Tần suất và thời lượng phát sóng bị giới hạn bởi chi phí nên không dễ dàng xem lại thông tin đã phát. Ti vi giờ đây đã trở thành vật dụng phổ biến tại Việt Nam từ thành thị tới nông thôn. Người tiêu dùng thích mua hàng qua Truyền hình vì họ cảm thấy thoải mái và thích đúng giờ nào đó họ xem thông tin mà họ ưa thích.
Web Thương mại Điện tử là nói đến bán hàng thông qua trưng bày Thông tin phong phú. Web cho phép người tiêu dùng tương tác với các dữ liệu; cho phép xem theo cách họ muốn vào bất cứ khi nào. Với Web, người dùng phải ngồi trước màn hình với khoảng cách gần, tư thế ngồi không thoải mái. Một vài người có thể cùng xem một màn hình tuy nhiên thông thường họ ngồi một mình. Người dùng Web chủ động ra lệnh cho Website và Website tuân theo. Internet mới phổ biến tại các thành phố lớn, trong khi tại khu vực nông thôn nhiều hộ gia đình vẫn chưa có cơ hội tiếp xúc với Internet. Người tiêu dùng thích mua hàng qua Web vì họ được chủ động lựa chọn sản phẩm và có môi trường để họ thỏa thích xem nhiều cách.
Dễ dàng nhận thấy mỗi mô hình đều có điểm mạnh và điểm yếu bù trừ lẫn nhau. Việc kết hợp hai kênh sẽ tạo ra sự cộng hưởng cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực Thương mại Điện tử. Lợi ích thu về giống như 2+2=5.
Tuy nhiên, tại Việt Nam cả hai kênh đều có điểm yếu là thanh toán thông qua sự trợ giúp của ATM thậm chí là tiền mặt. Gần đây nhất có thanh toán thông qua “ví” điện tử với dịch vụ của VNPay, Vina pay hoặc hỗ trợ thanh toán trực tuyến từ những ngân hàng như Đông Á, Eximbank.
Bạn lại cười rồi. Tôi đoán bạn đang nghĩ tại sao lại xẻo thịt cô bò sữa để nuôi chàng chuột bạch phải không? Sự kết hợp không đồng nghĩa với việc sở hữu một kênh truyền hình. Một anh có sẵn tài chính, công nghệ, sản phẩm kết hợp với anh truyền thông, chẳng phải rút ngắn thời gian chạy đua vũ trang hay sao? Nếu anh chỉ có một phần sức mạnh anh cần kết hôn, còn nếu anh đủ tài chính, công nghệ, sản phẩm và truyền hình thì đường rộng thênh thang, anh nên chạy. Hiện tại, ứng cử viên trong lĩnh vực truyền hình có thể kết hợp tại Việt Nam là Home Shopping ( HTVC), 25h.vn ( HTV), và Shopping TV ( VCTV)
Số lượng Web site định hướng Thương mại Điện tử tại Việt Nam lên đến hàng nghìn Site, tuy nhiên những Site TMĐT có chủ trương phối kết hợp với truyền hình thì đếm trên đầu ngón tay. Trong mô hình này, đơn vị Thương mại Điện tử có vai trò trung gian như một Siêu thị cho thuê địa điểm trưng bày hàng hoá trên Website, thu phí giao dịch đồng thời bán giờ phát sóng quảng bá sản phẩm của Doanh nghiệp trên Truyền hình. Mô hình lợi nhuận xoay quanh Trung tâm xử lý và dữ liệu của hệ thống với đầu ra là Web Thương mại điện tử và bán hàng qua Truyền hình.
Điểm mạnh của truyền hình là bất kỳ Doanh nghiệp nào cũng muốn được quảng bá do họ nhận thức rõ hiệu quả truyền thông, tuy nhiên điểm yếu là chi phí phát sóng cao, khách hàng khi muốn xem lại hàng hoá thì không thể; trong khi điểm mạnh của Web là chi phí thấp, cho phép khách hàng xem hàng hoá, dịch vụ theo nhiều cách khác nhau vào bất cứ lúc nào, tuy nhiên điểm yếu là các rào cản Thương mại Điện tử khiến người tiêu dùng khó tiếp cận với dịch vụ bán hàng trực tuyến. Đại đa số Doanh nghiệp đều có nhận thức nguồn thu từ việc đầu tư vào Thương mại Điện tử là rất mong manh.
Chính vì vậy cách thức thu hút Doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hoá phải bắt nguồn từ chính sách giá của quảng cáo trên Truyền hình. Hãng kinh doanh TMĐT một mặt nên chiết khấu giá phát quảng cáo cho các Doanh nghiệp trên truyền hình đồng thời tăng vùng quảng cáo trên truyền hình và đưa truyền hình tương tác vào, mặt khác trưng bày các hàng hoá, dịch vụ đã giới thiệu trên truyền hình với giá thấp hơn thị trường tại cửa hàng trực tuyến. Đối với các Doanh nghiệp muốn bán hàng, để được quảng cáo trên truyền hình, các mặt hàng, dịch vụ quảng cáo trên Web TMĐT phải thấp hơn thị trường. Giá bán trên Web đã bao gồm lợi nhuận cộng giá vốn hàng bán và các chi phí khác từ phí lưu kho ( nếu có) tới phí chuyển đến tay người tiêu dùng hoặc tính phí thấp trong một thời gian đầu tư.
Doanh nghiệp Thương mại điện tử ngoài việc thu lợi nhuận từ phí phát sóng và bán hàng giảm giá trên Web với sự phối hợp của Truyền hình và Web. Bằng việc phân tích dữ liệu trên Web, Doanh nghiệp có thể nắm bắt xu hướng thị trường một cách khá toàn diện để từ đó đưa ra chiến lược tồn kho, bán báo cáo điều tra thị trường cho các Doanh nghiệp hàng tiêu dùng.
Để phát triển thị trường, Doanh nghiệp thường phát triển hệ thống bán hàng, phân phối tuy nhiên với sự mới lạ, hữu ích và ít ỏi của các kênh bán hàng trên truyền hình, công cụ truyền thông và bán hàng này cũng có sức đào tạo và nâng cao nhận thức người tiêu dùng khá tốt.
Để xây dựng một công ty TMĐT như vậy, một trong những cách ít rủi ro là có sự đồng tham gia của các Doanh nghiệp truyền hình, truyền thông, phân phối và vận tải.
Dưới đây là mô hình đề xuất ngắn gọn:
Hiện tại có 5 kênh truyền hình trả tiền Home Shopping ( HTVC), 25h.vn ( HTV), O2TV, Shopping TV ( VCTV) và InfoTV, trong đó có 2 kênh kết hợp với Web Thương mại Điện tử là 25h.vn và Shopping TV. 25h.vn được phát sóng vào lúc 18h20 hàng ngày, Shopping TV sở hữu kênh truyền hình riêng hiện tại đang chạy thử nghiệm. Mỗi đơn vị đều có cách đi riêng của mình, tuy nhiên sự hạn chế về xu hướng, tâm lý và hành vi người tiêu dùng trực tuyến chưa cao nên bài toán làm sao ra tiền từ trực tuyến vẫn là câu hỏi để ngỏ.
Bản thân tôi cũng đã có dịp làm việc với 2 đơn vị và có những góp ý nhất định tuy nhiên có nhiều rào cản khiến mô hình được triển khai khá chậm chạp. Tuy nhiên trong tương lai mô hình này cũng rất có tiềm năng.
Hy vọng trong 2 năm tới, thị trường, công nghệ sẽ có nhiều chuyển biến và những người tiêu dùng lười biếng như tôi có thể ngồi tại nhà và mua sản phẩm giá thấp tại các siêu thị trực tuyến.
theo blog của anh Nguyễn Ngọc Phương
Thấm thoắt đã gần 5 tháng DSI
Filed Under (DSI - Chia sẻ của các thành viên) by admin on 12-12-2008
Tagged Under : Chia sẻ cuối năm
Lâu rồi mới có thời gian ngồi viết Blog. Ngẫm lại những gì chúng ta đã làm, chúng ta có được và chúng ta mất.
Trong năm 2008, DSi từ văn phòng nhỏ bên Nguyên Hồng chuyển sang văn phòng mới, hiện đại và đẹp hơn tại 52 Hoàng Ngọc Phách, rồi trang trí lại theo phong cách hiện đại dần dần. Sang năm 2009 sẽ có nhiều cải tiến tiếp tục để có được diện mạo mới.
Chúng ta đã có 02 người ra đi, 01 người mới. Đội sale sau những thay đổi mạnh đã có sự chuyển biến về kinh doanh. Sang năm mới DSI đang tuyển dụng thêm nhân lực cho đội sale, DSi cung sẽ thêm một số hướng kinh doanh mới để chúng ta đa dạng nguồn thu.
Những giây phút cuối năm 2008. Mọi người hãy chia sẻ hết những nỗi niềm bản thân, có những điều chưa hài lòng, những đóng góp cải tiến, hãy chia sẻ để năm mới chung ta thực sự đổi mới, là năm bản lề cho những kế hoạch dài hơi.

Chờ đóng góp của anh em.
Gate.vn cuộc sống kẻ nửa mùa
Filed Under (DSI-Ecomerce) by dearboy9x9 on 12-12-2008
Tagged Under : dearboy9x9, dịch vụ số, fpt, gate, phân tích, phát triển, quảng cáo, thương hiệu
Sau một thời gian ngắn phô trương nguồn lực, Gate.vn chính thức gia nhập đội quân “chết vì thiếu hiểu biết”. Bài viết phân tích những sai lầm của Gate.vn, từ đó rút ra kinh nghiệm và bài học cho các doanh nghiệp đang có chiến lược tương tự Gate.vn.
Được thừa kế nền tảng kinh doanh của FPT Telecom từ nhiều năm trước, nên dù mới hơn 1 tháng tuổi và có tầm nhìn” vừa đủ”, FPT Online vẫn tự tin tham gia vào cuộc chiến dành giật người dùng trực tuyến. Chiến lược được mô tả bằng việc kéo phân khúc thanh thiếu niên đam mê giải trí trực tuyến vào một không gian xã hội chung, và đẩy họ vào vòng xoáy nhận thức các nhãn. Và ngày 08/06/2007 FPT Online hiện thực hoá bằng việc khai trương một Portal tổng hợp các dịch vụ định hướng giải trí và thương mại trực tuyến tại địa chỉ www.Gate.vn. Gửi gắm trong Gate.vn là mong muốn cuốn hút thanh thiếu niên từ 18-34 tuổi vào cộng đồng này. Với lợi thế cạnh tranh về lượng thành viên trung thành của Game trực tuyến và Nhạc số, FPT Online đặt 2 dịch vụ này làm trung tâm của hệ thống Gate.vn. Súng nổ cũng là lúc đội quân Gate.vn bắt đầu công cuộc dựng xây các nhãn con hỗ trợ, hoạt động SEO, BTL và đăng các bài viết giật gân, nhí nhố nhằm hút người dùng trẻ tuổi vào Site của mình. Và từ đây bắt đầu lộ chân tướng kẻ nửa mùa.

Hình 1: Mô hình người dùng của Gate.vn
Chiến lược liên kết chỉ là bánh vẽ
Định hướng của FPT Online là sử dụng cộng đồng trực tuyến như một đòn bẩy giúp truyền đạt thông điệp của nhãn Game trực tuyến đồng thời mở rộng liên kết với người dùng. Đây cũng là việc mà Zing, Caravat, … đang triển khai, tuy nhiên chiến lược nào để thu lợi nhuận luôn là bài toán khó không chỉ với FPT Online mà với tất cả các Doanh nghiệp muốn Kinh doanh Trực tuyến.
Mục đích của việc tạo dựng cộng đồng trực tuyến hỗ trợ cho nhãn của Game trực tuyến là tạo ra một xã hội mà ở đó cuộc sống không trọn vẹn nếu thiếu nhãn của Game trực tuyến. Để làm được việc này đòi hỏi sự kết hợp một cách sáng tạo giữa năng lực am hiểu sâu sắc cộng đồng và việc thể hiện các giá trị cốt lõi của nhãn Game trực tuyến. Việc làm cụ thể của FPT Online là xây dựng sân chơi Gate.vn cho các hoạt động xây dựng nhãn hiệu lâu dài.
Chiến lược liên kết của FPT Online là xây dựng hình ảnh nhãn Gate.vn gắn bó với Giải trí trực tuyến. Ngôi sao của chiến lược là 3 game nổi danh và Nhạc số. Chiến lược kinh doanh khá hoành tráng, tuy nhiên khi công cuộc xây dựng thương hiệu còn đang dang dở thì FPT Online tạm dừng phát triển sản phẩm. Một năm nhìn lại chặng đường phát triển của Gate.vn có thể thấy một tầm nhìn quả táo nhưng hành động chưa bằng quả nho. Liệu đây là tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược của FPT Online hay không tự lượng sức mình?
Dựa trên tình huống của FPT Online, chúng ta có 4 chiến lược liên kết:
- Tạo mạng cộng đồng trực tuyến tập trung một số sở thích/ thói quen của khách hàng mục tiêu, đồng thời tích hợp một số dịch vụ của FPT Online nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản trong mạng cộng đồng, tuy nhiên đây không phải dịch vụ nhóm người dùng mục tiêu quá quan tâm và miễn phí. Dịch vụ tính phí của FPT Online liên quan đến dịch vụ miễn phí và được khởi động khi cộng đồng phát triển đủ lớn.
- Tạo mạng cộng đồng trực tuyến tập trung một số sở thích/ thói quen của khách hàng mục tiêu, đồng thời tích hợp một số dịch vụ của FPT Online nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản trong mạng cộng đồng. Đây là những dịch vụ mà nhóm người dung mục tiêu đã và đang sử dụng và doanh nghiệp mong muốn tính phí, tuy nhiên chúng miễn phí trong giai đoạn đầu.
- Tạo mạng cộng đồng trực tuyến tập trung một số sở thích/ thói quen của khách hàng mục tiêu, tuy nhiên đặt một số dịch vụ có phí của FPT Online làm trung tâm, đồng thời đưa thêm các dịch vụ khác tôn lên giá trị của dịch vụ chính.
- Tạo mạng cộng đồng trực tuyến tập trung một số sở thích/ thói quen của khách hàng mục tiêu và hoàn toàn miễn phí. Dịch vụ tính phí được quảng cáo hoặc tham gia tài trợ cho mạng cộng đồng.
Với chiến lược thứ nhất:
Ưu điểm: do hai loại hình dịch vụ tách rời nên nếu thất bại sẽ không bị suy giảm thương hiệu dịch vụ tính phí.
Nhược điểm: Chi phí đầu tư lớn, quản lý phức tạp, hoạt động marketing mạnh, chức năng và nội dung phải tốt, nhân sự nhiều, việc kết nối hai dịch vụ có phí và miễn phí phải trơn tru.
Với chiến lược thứ hai:
Ưu điểm: đầu tư đúng vào dịch vụ đã và đang triển khai, nhân sự tham gia không nhiều.
Nhược điểm: Tính phí không đúng thời điểm, đúng phương pháp dễ dẫn đến mất lòng tin từ người dùng, trong trường hợp xấu có thể huỷ hoại thương hiệu, mô hình kinh doanh sẽ sụp đổ. Chi phí đầu tư lớn, chức năng và nội dung phải tốt, hoạt động marketing mạnh.
Với chiến lược thứ ba:
Ưu điểm: Đầu tư đúng vào dịch vụ tính phí đã và đang triển khai, mô hình dựa trên một dịch vụ kinh doanh đã thành công nên dù không thành công, mô hình vẫn tồn tại. Chi phí đầu tư thấp hơn so với hai chiến lược đầu.
Nhược điểm: Chiến lược khai thác sâu vào nhóm người đã, đang sử dụng dịch vụ và một số ít người chưa từng sử dụng, nhóm này nhỏ so với toàn bộ thị trường. Khi nhu cầu thị trường thay đổi, chiến lược phải thay đổi nhiều để phù hợp. Hoạt động Marketing phải mạnh.
Với chiến lược thứ tư:
Ưu điểm: Mối quan hệ qua lại được xây dựng dựa trên niềm đam mê của người tiêu dùng và nhãn hiệu của Doanh nghiệp sáng tạo ra một giá trị của đôi bên, làm đôi bên gần gũi và yêu mến nhau. Có thể nhắm tới các đối tượng mục tiêu nhỏ hẹp hơn trong tổng thể người dung trên mạng xã hội. Sự ảnh hưởng lan toả từ thương hiệu mẹ đến thương hiệu con làm người dùng tin tưởng và thích thú khi dùng dịch vụ có phí. Đồng thời dịch vụ có phí cũng thúc đẩy sự tăng trưởng doanh số của thương hiệu mẹ và các thương hiệu con khác. Trong tất cả các chiến lược, chiến lược này hiệu ứng lan toả thấp nhất.
Nhược điểm: Chi phí đầu tư lớn nhất, nhân sự, chức năng và nội dung phải tốt và các hoạt động Marketing phải lớn. Mô hình quản lý cũng phức tạp.

Hình 2: Các chiến lược liên kết
May mắn, do yếu tố lịch sử FPT Online đã lựa chọn chiến lược thứ ba. Nếu áp dụng chiến lược thứ hai, thương hiệu mẹ và hàng loạt thương hiệu con có thể bị huỷ hoại, hình ảnh xấu sẽ gắn liền với các thương hiệu liên quan, kéo theo doanh số của thương hiệu mẹ và con giảm sút.
Một trong những đối thủ của FPT Telecom là VinaGame lại lựa chọn chiến lược thứ tư. Với sự đầu tư quy mô và chuẩn bị kỹ lưỡng, bạn vịt Zing.vn đang đi đúng hướng và góp phần xây dựng thương hiệu game trực tuyến của Vinagame trong dài hạn. Trong thời gian gần đây, dân cư mạng cũng bán tán xôn xao về dự án Caravat.com của Navigos, một mạng xã hội nhái LinkedIn và có vẻ như tạo sự gắn kết giữa một nhãn cung ứng nhân sự cao cấp của Navigos và ham muốn kết nối của giới lãnh đạo. Cũng không loại trừ khả năng slogan là một hư chiêu nhắm tới phân khúc nhân sự phổ thông của Vietnamworks.com. Cũng trong trào lưu này, FPT tung ra Vitalk, Vihuni, một phần mềm chat, tìm đường trên điện thoại di động và một mạng xã hội di động, hai nhãn này cũng nhanh chóng bộc lộ tham vọng kết hợp với hệ thống phân phối điện thoại của FPT Distribution để thâu tóm thị trường TMT đang hỗn mang.
Chiến lược thương hiệu chỉ là phép thử
Không ở đâu hiệu ứng lan toả giữa các nhãn lại mạnh mẽ như trên Internet, nơi các nhãn chỉ cách nhau một click chuột. Với trải nghiệm nhiều năm chinh chiến dịch vụ trực tuyến, FPT Telecom hiểu rất rõ điều này. Tài sản này được truyền cho đứa con FPT Online bằng những nhãn đã xây dựng và các cuộc họp. Tuy nhiên sự thiếu kinh nghiệm chinh chiến thể hiện trong việc không coi trọng chiến lược thương hiệu trong Gate.vn.

Hình 3: Mô hình chiến lược nhãn hiệu
Việc thiếu kinh nghiệm bộc lộ rõ trong cấu trúc nhãn. Dường như tất cả các nhãn đều bám khung ý tưởng. tuy nhiên hai nhãn Nhạc số, MobiOne, Tin tức theo thứ tự không có chung nhiều nhân tố cấu thành nên nhãn hiệu và mức độ liên kết giữa chúng với các nhãn khác rất yếu ớt. Trong sáu nhãn, chỉ có ba nhãn Game Online (gọi chung 3 game của FPT Online là Game Online), Diễn đàn, Rao vặt có mức độ liên kết cao và tập trung vào giá trị cốt lõi. Sự lỏng lẻo trong cấu trúc nhãn hiệu càng được thể hiện rõ trong hình ảnh và dấu hiệu nhận biết của cấp độ nhãn con. Sự không đồng nhất thể hiện sự chắp vá không suy tính lâu dài của FPT Online. Mặc dầu các hoạt động ATL, BTL, IMC của FPT Online được đẩy mạnh tuy nhiên tất cả những nỗ lực đó chỉ nhằm kéo khách đến cửa, còn phát triển sản phẩm, dịch vụ để khách có đủ tin cậy, yêu thích để vào nhà lần hai lại chưa có hiệu quả. Với một thương hiệu yếu ớt như Gate.vn, khả năng tấn công và phòng thủ với các nhãn đối thủ như Zing.vn là điều không thể.
Cấy Nhạc số vào Gate.vn, tham bát bỏ mâm
Gate.vn với thông điệp cổng nội dung và dịch vụ trực tuyến dành cho thanh thiếu niên. Nhãn hiệu này bao gồm sáu nhãn hiệu con với Nhạc số, Game Online, MobiOne, Tin tức, Rao vặt, Diễn đàn. Trong đó các nhãn hiệu chính của Gate.vn là Nhạc số, Game Online, MobiOne. Khách hàng mục tiêu của các dịch vụ là thanh thiếu niên đam mê giải trí trực tuyến và có tiền chơi game. Dường như tất cả các nhãn hiệu đều có tính cách tương tự nhau, tuy nhiên Nhạc số lại định hướng trở thành một hệ thống âm nhạc trực tuyến có bản quyền lớn nhất tại Việt Nam. Với tôn chỉ như vậy dễ dàng nhận ra khách hàng mục tiêu của Nhạc số là những người nghe nhạc “đứng đắn”. Cùng với sự kiện ngày 27/10/2008 Hiệp hội Công nghiệp ghi âm VN (RIAV) tuyên bố kiện nhãn hàng ĐTDĐ Nokia và mạng truyền hình theo yêu cầu IPTV sử dụng hơn 10.000 ca khúc của thành viên RIAV mà không xin phép. Nhạc số chính thức sẽ tách ra khỏi dòng nhạc đang thịnh hành trong đại đa số thanh thiếu niên Việt. Như vậy Nhạc số có lạc loài trong các nhãn con khác? Thẳng thắn mà nói Nhạc số nhắm vào một phân khúc thị trường khác, với bổ trợ của hệ thống kinh doanh điện thoại, âm nhạc có bản quyền, Nhạc số là một nhân tố quan trọng trong dòng dịch vụ phục vụ cho một mô hình kinh doanh khác, khai thác một thị trường khác. Việc chuyển Nhạc số vào Gate.vn thành nhãn con dù tăng sức mạnh của nhãn Gate.vn, tuy nhiên đây cũng là một quyết định khá khó hiểu từ phía FPT Online. Thực tế lại cho thấy FPT Online chưa sát nhập tên miền Nhạc số vào tên miền con của Gate.vn, điều này cho thấy nội bộ FPT Telecom chưa thống nhất về cấu trúc nhãn của Gate.vn. Rất may mắn sự vô tình hay hữu ý này làm giảm hiệu ứng lan toả tính cách & giá trị thương hiệu Gate.vn vào Nhạc số, và bảo tồn gần như nguyên vẹn Nhạc số. Dường như FPT Online khá lúng túng trước sự hỗn loạn của thị trường âm nhạc trực tuyến. Việc cấp thiết hiện tại là tách Nhạc số ra khỏi Gate.vn và thay thế bằng một dịch vụ nghe nhạc với các nhân tố cấu thành nhãn hiệu có liên hệ với các dịch vụ khác trên Gate.vn (nếu tiếp tục phát triển Gate.vn). Việc này bạn vịt Zing.vn đang làm rất tốt, dù bạn cũng chỉ bằng tuổi Gate.vn.

Mô hình các dịch vụ của Gate.vn
Nguyễn Ngọc Phương’s Blog
Chiến lược và vấn đề của Zing
Filed Under (DSI-Ecomerce, DSI-Tin hay trong ngày) by dearboy9x9 on 12-12-2008
Tagged Under : chiến lược, dearboy9x9, phân tích, quảng cáo, thương mại điện tử
Trong thời gian gần đây, Zing thực hiện một loạt động thái chiến lược bao gồm: nâng cấp UI cổng thông tin giải trí, ZMovie, ZChat 1 lên ZChat 2 cũng như thay đổi cách thức Marketing; thay đổi giao diện và nội dung ZStar, ZPhoto, ZVideo, ZMail, ZPlay; đầu tư vào công cụ tìm kiếm ZSearch, gộp ZDirectory vào ZSearch; chuyển Yobanbe về Zing; thành lập Zing Advertise để bán quảng cáo trên Cổng thông tin giải trí trực tuyến Zing.
Lý luận của Zing
Gần 60% dân số Việt Nam là những người trẻ ở độ tuổi dưới 30. Lứa tuổi 15-24 là những người chơi Game chủ yếu. Họ hầu hết chưa tự làm ra tiền nhưng có khả năng gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhu cầu và quyết định mua sắm của các nhóm tiêu dùng khác, chẳng hạn cha mẹ và họ thích tiêu sài.
Theo báo cáo Mindshare Việt Nam đưa ra tại Hội thảo “Tiếp thị Việt Nam 2007 - thách thức và cơ hội”, 68% thanh niên cho biết nhãn hiệu là điều họ quan tâm nhất khi mua hàng, khoảng 73% thanh niên sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm có chất lượng. Cũng có hơn 70% thanh niên tìm mua hàng hay dịch vụ dựa trên những thông tin quảng cáo. Tuy nhiên, giới trẻ Việt Nam không chạy theo nhiều ảnh hưởng bên ngoài mà gắn chặt với những giá trị truyền thống.
Khảo sát cũng cho thấy 92% bạn trẻ thường download âm nhạc vào điện thoại, 73% download nhạc chuông, 50% chơi game, 44% download screensaver, 20% xem phim, 18% gửi thiệp và 5% nhận và viết email. Rõ ràng đây là một thị trường béo bở cho các nhà marketing.
Xu hướng thói quen xem tivi, nghe nhạc và đọc sách trong thanh niên trước kia giờ đã giảm, mà thay vào đó là sự gia tăng của việc thích ra phố, chơi thể thao, chơi game và lướt net. Giới trẻ Việt Nam đã bắt đầu quan tâm nhiều đến các phương tiện và sản phẩm kỹ thuật số, và xu hướng này cũng bắt đầu lấn át các sản phẩm truyền thông truyền thống. Những vật dụng mà giới trẻ Việt Nam hiện nay thích nhất là xe gắn máy, điện thoại di động, laptop, iPod, đồ thời trang, …
Theo Báo Tư vấn Tiêu dùng, sau 10 năm nữa, dân số Việt Nam vẫn sẽ là dân số trẻ. Và những người tiêu dùng trẻ của ngày hôm nay có thành một lượng khách hàng trung thành khổng lồ và có khả năng định hướng tiêu dùng cho một thế hệ kế tiếp.
Hầu hết các công ty thương mại và sản xuất Việt Nam đều thiếu chiến lược từ sản phẩm tới marketing, quảng cáo tới người tiêu dùng trên Internet. Và đây là lý do để VinaGame chuyển mình từ một thương hiệu Game trực tuyến thành một tổ hợp thương mại - giải trí – công nghệ - truyền thông – thông tin trực tuyến.
Vấn đề của Zing
Chưa khai thác khai thác sâu dữ liệu có giá trị. Các dữ liệu bao gồm thông tin cá nhân, tình trạng cá nhân, quan hệ, liên hệ, kết nối, cập nhật. Zing chỉ mới giải quyết bề nổi của sở thích, mong muốn của người sử dụng.
Sản phẩm chưa sắc bén. Zing là sự pha trộn của nhiều dòng sản phẩm nhắm nhiều phân khúc thị trường trùng nhau, trong đó có nhiều dòng sản phẩm tương khắc lẫn nhau. Zing cũng là sự kết hợp cổng thông tin, giải trí thiên về chia sẻ nội dung với nhiều sản phẩm như các web tiện ích, mạng xã hội.
Mức độ tương tác trong các sản phẩm chênh lệch cao. Tính tương tác và người dùng tạo nội dung trên Zing ở mức trung bình khá, mức độ chênh lệch giữa các sản phẩm cao.
Tồn tại 2 nền tảng khác biệt Yobanbe và Zing. Yobanbe bản thân là một mạng xã hội pha trộn giữa mô hình tôi-bạn và tập trung nội dung. Zing là một cổng thông tin, giải trí trong đó có tính năng chia sẻ nội dung.
Bốn chiến lược
Sau hơn một năm đầu tư cho cơ sở hạ tầng và thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ, tháng 8 năm 2008 Zing đã chính thức tung ra chuỗi dịch vụ trực tuyến và trung tâm quảng cáo Zing Advertise, từ đó bắt đầu vắt sữa bạn bò được chăm nuôi bởi VinaGame. Mỗi sản phẩm sinh ra đều có sứ mệnh riêng của nó. Với Zing chúng cần phải thu hút lượt truy nhập, và khi đã hoàn thành sứ mệnh chúng được đếm là còn 13 dịch vụ. VinaGame nên thực thi bốn chiến lược dưới đây để đưa Zing đến một tầm cao mới.
1. Chiến lược liên kết nhãn. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích nhắm vào khách hàng mục tiêu. Dịch vụ tính phí như Game trực tuyến được đưa vào Zing dưới dạng quảng cáo banner hoặc tài trợ. Chiến lược này bao gồm sự kết hợp với các hoạt động truyền thông của dịch vụ tính phí, từ đó tạo hiệu ứng lan toả nhãn giữa Zing và dịch vụ tính phí và ngược lại.
2. Chiến lược đồng hoá. Xây dựng một tài khoản thông tin cá nhân duy nhất, xuyên suốt toàn bộ các dịch vụ giải trí của Zing và dịch vụ tính phí. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích nhắm vào khách hàng mục tiêu. Dịch vụ tính phí không xuất hiện trong Zing mà như một thành phần cốt lõi, gắn chặt với tài khoản và trải rộng trên các tài nguyên của Zing. Tăng các hoạt động sử dụng đồng tiền của dịch vụ tính phí vào các hoạt động giải trí mang tính xã hội của Zing. Giảm thiểu quảng cáo về dịch vụ tính phí, phối hợp thông điệp và sản phẩm tác động từ từ nhưng lâu dài vào trí nhớ của người dùng.
3. Chiến lược tăng lưu lượng truy nhập và lòng tin để bán quảng cáo. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích phục vụ đa phân khúc, những phân khúc có khả năng tài chính và cởi mở trong chi tiêu. Cần xây dựng các giải pháp quảng cáo dựa trên sự tin cậy và các ứng dụng đo lường các chỉ số thiết yếu phục vụ media và hiệu quả của nó.
4. Chiến lược thu thập trải nghiệm người dùng để phát triển sản phẩm khai thác thị trường ngách. Cần tăng thêm tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định và di động. Cần xây dựng các hệ thống phân tích hành vi người sử dụng để tìm ra nhu cầu mới.
Ba nhóm sản phẩm
ZChat, ZMail, ZSearch, Game trực tuyến là các ứng dụng “huỷ diệt” Zing. Khi các ứng dụng đó phát triển mức cao, đáp ứng những nhu cầu chuyên biệt của các nhóm người dùng khác nhau, thì người dùng của VinaGame sẽ chia thành những nhóm sử dụng dịch vụ với những mong muốn lợi ích khác nhau. Họ hầu như ít khi sử dụng thêm các dịch vụ khác của VinaGame. Các dịch vụ tương khắc được đặt trong cùng một môi trường dẫn đến giảm giá trị tổng thể các dịch vụ của VinaGame. Giải pháp là những dịch vụ liên quan được tập hợp thành những trung tâm với nhân tố chính là những dịch vụ có vòng đời dài. Chúng có thể được kết hợp với dịch vụ có tính kết nối, cộng đồng; có thể tích hợp các dịch vụ huỷ diệt vào các ứng dụng giải trí – tin tức ở mức tính năng đơn giản nhưng tạo ra sự kết nối, tính cộng đồng cao; tạo một nơi làm điểm bắt đầu - kết thúc của tất cả các dịch vụ cổng thông tin - mạng xã hội, .
Zing cần tăng tính năng tính điểm trong Zing như ZPlay & ZCity để tăng điểm Kinh nghiệm Game trực tuyến, đồng thời cho phép thành viên sử dụng chúng để chi trả cho các hoạt động giải trí trên mạng xã hội của Zing. Đây là một phương pháp đào tạo thành viên quen với đơn vị tiền tệ của Game trực tuyến, là cầu nối giúp người dùng Zing đến gần hơn với Game trực tuyến và ngược lại, đồng thời tạo nguồn thu cho Zing.
Trong giai đoạn một, Zing tập trung vào xây dựng Cơ sở hạ tầng và thử nghiệm các ý tưởng dịch vụ trực tuyến. Mục đích của giai đoạn này nhằm nâng cao nhận thức người dùng và nghiên cứu các nhu cầu & mong muốn của người dung từ đó phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người dùng mục tiêu hơn. Tuy nhiên sự phát triển dựa trên mô hình chiến lược tổng thể chưa hoàn thiện dẫn đến việc nhiều ứng dụng phình to quá giới hạn cần thiết cũng như xương sống của hệ thống sản phẩm không vững chắc. Điều này khiến Zing sẽ phải tiêu tốn nhiều nguồn lực để hiệu chỉnh để có một hệ thống dịch vụ trực tuyến mang tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định trong giai đoạn hai. Từ đó góp phần vào tạo giá trị cho tổng thể các nhãn cũng như sống độc lập.
Sự bắt đầu cho giai đoạn hai cũng là lúc chuẩn bị cho giai đoạn ba. Giai đoan tăng năng lực truyền thông của những sản phẩm trụ cột và năng lực liên kết, tích hợp của các nhóm sản phẩm cùng chung nhóm khách hàng mục tiêu. Những sản phẩm trụ cột có thể bao trùm nhóm người dùng mục tiêu của Game trực tuyến hoặc nhóm người dùng trẻ có khả năng tài chính, chịu chi hoặc nhóm người dùng trẻ, năng động có công việc hoặc phục vụ cho toàn bộ thị trường. Chúng ta chia sản phẩm của Zing thành 3 nhóm và dựa trên 4 chiến lược chính.
- Nhóm thu thập trải nghiệm và hành vi người dùng trực tuyến với nhân tố then chốt là Dịch vụ ZSeach. Nhóm này cần có thương hiệu riêng, chúng nhắm vào nhóm người dùng phổ thông, bất cứ ai sử dụng Internet
- Nhóm giao tiếp, công việc với nhân tố chính là Dịch vụ ZMail, ZChat, chúng cũng cần tách ra thành thương hiệu riêng chúng nhắm vào Nhóm người dùng trẻ, năng động, sử dụng cho mục đích công việc, giao tiếp
- Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội giải trí bao gồm các dịch vụ thông tin, giải trí trực tuyến và vẫn sử dụng thương hiệu Zing tuy nhiên cần nâng cấp toàn bộ các dịch vụ bằng việc thêm tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định, di động và thương mại. Nhóm này cũng cần có một trang bắt đầu - kết thúc cho tất cả các dịch vụ, một tài khoản dùng chung xuyên suốt các dịch vụ Game trực tuyến, thương mại, mạng xã hội, tìm kiếm, thư điện tử và các dịch vụ khác và tính điểm bằng đồng tiền riêng của VinaGame cho toàn bộ các nỗ lực của người dùng trên tất cả các dịch vụ trực tuyến của Zing. Chúng nhắm vào Nhóm người dùng trẻ ham vui, muốn giải trí, tìm thông tin. Nỗ lực của nhãn này có tác động lớn đến thương hiệu và doanh thu của các dịch vụ Game trực tuyến.
Cấu trúc sản phẩm đề xuất cho Zing

Độ dày của đường kết nối thể hiện mức độ quan hệ giữa các sản phẩm.
Với thị trường có 28,3 triệu thuê bao di động, 20,1 triệu người dùng Internet và có 65% dân số dưới 30 tuổi sử dụng công nghệ cao, đây là cơ sở tốt để phát triển công cụ tìm kiếm phục vụ nhu cầu bản địa trên Internet và Mobile. Nhưng thay vì sử dụng sở đoản để đối đấu với Google, Yahoo, ZSearch nên đi theo hướng khác biệt, phát triển công cụ tìm kiếm tập trung vào các nhu cầu chuyên biệt của người dùng trẻ Việt Nam. Hiện có hai đối thủ Việt lớn Zing cần quan tâm là Baamboo.vn và Xalo.vn, tuy nhiên ZSearch có lợi thế sân sau là cổng Zing nên khả năng tiếp cận người dùng trẻ của Zing tốt hơn các đối thủ. Trong giai đoạn đầu, ZSearch có nhiệm vụ tác động vào trí nhớ và con tim của người dùng dưới 30 tuổi. Khi nhóm này đã cam kết với nhãn ZSearch, ZSearch bước sang giai đoạn hai, giai đoạn tác động đến phân khúc 30-40 tuổi. Ghi chú, nhóm 25 – 30 tuổi tuy chỉ chiếm 8% dân số Việt Nam nhưng họ không chỉ sử dụng Internet, Mobile cho mục đích tìm thông tin, giải trí, mà họ còn sử dụng trong giao tiếp, công việc. Việc phát triển các tính năng hỗ trợ công việc cho họ và được bản địa hoá rất quan trọng.
Việc tạo sự khác biệt với đối thủ như Google, Yahoo dường như đang bị lạm dụng quá mức tại Việt Nam. Nhiều công cụ tìm kiếm nội địa hối hả xác định và chia các phân khúc thị trường ngày càng nhỏ hơn dẫn đến nhiều sản phẩm và thị trường một đối một với khách hàng. Đầu tư liên tục để vượt qua đối thủ nhưng thị trường ngách nhỏ lại quá mức, dẫn đến lợi nhuận không tăng theo mức độ đầu tư trong khi khối lượng thị trường không tăng lên. Ví dụ dịch vụ Tìm kiếm nhạc và cho phép nghe nhạc chất lượng cao trực tuyến, Tìm kiếm sách.
Nhóm dịch vụ ZMail, ZChat phục vụ nhu cầu giao tiếp, công việc nên chúng có điểm nổi bật là phục vụ nhu cầu giao tiếp của nhóm 15 – 24 tuổi và giao tiếp công việc của nhóm người dùng trên 25 tuổi. Ngoài việc tạo một trung tâm với việc đưa ZChat và các ứng dụng phục vụ giao tiếp công việc vào trong ZMail, trung tâm này cũng phải được bản địa hoá để khác biệt với các đối thủ như Yahoo, Gmail. Để mở rộng thị trường, Zing cần trao quyền đại lý cho người dùng cá nhân để họ tự tích hợp ZChat vào các mạng xã hội, trang thông tin, trang thương mại B2B, B2C, C2C, diễn đàn. Cũng tương tự như chiến lược của Nhóm thu thập trải nghiệm & hành vi người dùng trực tuyến, Nhóm này cần tập trung khai thác nhóm 15 – 24 tuổi và nhóm 25 -30 tuổi trước khi mở rộng ra.
Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội vẫn tập trung vào nhóm người 15 – 30 tuổi, nhóm người sử dụng chủ yếu trên Zing hiện tại. Nhìn xa hơn nhóm người tiêu dùng trẻ đang chiếm khoảng trên 65-70% tổng nhu cầu mua sắm tiêu dùng xã hội. Đây là nhóm người mua sắm áp đảo trong nhiều lĩnh vực, nhất là các sản phẩm công nghệ cao, tiêu dùng cao cấp và nhiều dịch vụ hiện đại khác… Nên việc cấp thiết của Zing là gia tăng tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định để tăng lòng trung thành của người dùng, tạo hiệu ứng quảng bá truyền khẩu, đồng thời phát triển nội dung, thẩm mỹ và tính năng sao cho phù hợp với đặc tính của nhóm tiêu dùng để hút quảng cáo của các ngành hàng muốn bán hàng cho nhóm tiêu dùng đó.

Phân khúc người dùng trẻ mà Zing nhắm tới cũng là phân khúc đang được tranh giành bởi hầu hết các dịch vụ trực tuyến. Trên mô hình là ba phân khúc bên tay trái, tuy nhiên chúng chiếm tỉ lệ lớn trên tổng số người sử dụng Internet tại Việt Nam. Năm 2006, có 82% thanh thiếu niên Việt Nam sử dụng thành thạo Internet. Phần lớn số này nằm trong độ tuổi 15-19. Tỷ lệ đối với nhóm tuổi 20-24 là 74%, còn số người biết cách lướt web ở VN nói chung chiếm 45%. Dựa trên khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofres (TNS) Việt Nam. Kể từ phân khúc thứ tư, chúng loại bỏ những người dùng tiềm năng của Zing, chúng là những thị trường ngách, dễ dàng tiếp cận, chi phí đầu tư thấp. Trong 3 nhóm sản phẩm của Zing, Nhóm ZSearch, cổng thông tin, mạng xã hội có nhiệm vụ thống kê, đánh giá nhu cầu và mong muốn của 3 phân khúc đầu và các thị trường ngách nằm ở đuôi trong hình trên.
Được xếp thứ nhì châu Á về tỉ lệ dân số trẻ, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển các kênh truyền thông điện thoại di động. Tuy nhiên, xét trên bình diện rộng hơn, dân số nông thôn Việt Nam cũng chiếm đến 76,5% dân số. Cộng thêm vào đó là 13,6% dân số thành thị sinh sống tại các thành phố cấp 2. Gần 60% dân số ở các khu vực này có thu nhập thấp, dưới 1,5 triệu đồng/ tháng, nên việc phát triển các phương tiện hiện đại còn cần một thời gian rất dài. Ngoài ra, “Cuộc khảo sát nông thôn thí điểm của TNS Vietnam và TNS Worldpanel Vietnam” trong năm 2007 cũng cho thấy, chỉ 33% dân số nông thôn sử dụng điện thoại di động (bằng một nửa so với thành thị). Internet còn ở bước sơ khai với 1% dân số nông thôn sử dụng (thành thị cũng chỉ đạt 4,5%). Việc gắn kết trải nghiệm từ PC sang Web và ngược lại cũng như từ Web hay PC sang Mobile là chiến lược lâu dài Zing cần làm trong những năm tới để dẫn đầu trong thị trường dịch vụ trên Mobile.
Hai hình thức quảng cáo
Dựa trên khảo sát của ACNielsen Việt Nam, tỉ lệ người truy cập internet cho các mục đích: đọc tin tức 75%, chơi game trực tuyến 50%, chat và email 30%, nghiên cứu và học tập 20%… mua bán và kiếm việc qua mạng chỉ 7%. Với việc trau chuốt mười ba sản phẩm còn tồn tại sau giai đoạn một và sự bắt đầu của dịch vụ quảng cáo trên Zing, VinaGame thể hiện tham vọng thu phí từ loại hình quảng cáo hiển thị khá rõ nét.
Hiện tại Zing cũng như hầu hết các mạng xã hội khác tại Việt Nam sử dụng phương thức quảng cáo hiển thị và cưỡng bức người sở hữu trang chấp nhận. Chúng ta đều hiểu Zing được tạo ra để phục vụ cộng đồng và giá trị nội dung do trí tuệ tập thể người dùng đem lại nên việc Zing Advertise đặt quảng cáo trên Zing sẽ làm người tạo giá trị cảm thấy bị xâm phạm quyền sử dụng và sở hữu. Hãy nhớ lại giới trẻ tại thành thị chú ý đến thương hiệu để chứng tỏ mình ở trong một nhóm, một tầng lớp nào đó. Họ cũng rất quan tâm đến người khác đánh giá mình và sản phẩm, dịch vụ mà bạn bè hoặc người quen đánh giá. Điều này đã định hình phong cách tiêu dùng của họ. Zing cũng vậy, Zing đã tạo ra những mối quan hệ trực tuyến và nó có thể bán quảng cáo dựa trên lòng tin vào nhãn trong mạng lưới người dùng. Tuy nhiên người dùng trẻ Việt Nam đại đa số vẫn đồng ý với hình thức quảng cáo cho họ quyền chấp nhận nên Zing có thể ứng dụng hai hình thức quảng cáo:
Quảng cáo tự phục vụ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tự tạo tài khoản trên Zing, Zing sẽ cung cấp một tài khoản tương tự như tài khoản của người dùng bình thường nhưng họ sẽ có khả năng nâng cấp tài khoản để sử dụng các công cụ hỗ trợ marketing tới mạng lưới khách hàng trong mạng lưới của họ. Với hình thức quảng cáo này, đơn vị quảng cáo sẽ không cần tới nhà môi giới, tự họ sử dụng các công cụ hỗ trợ quảng cáo của Zing để phục vụ công việc của họ. Với hình thức này, Zing cần tuân thủ theo chuẩn banner của IAB để các international agencies có thể tham gia vào cuộc chơi.
Xa hơn hình thức này, Zing nên cho phép người dùng tự tạo Nhóm để phục vụ một tôn chỉ của họ và hình thức này có công cụ cho phép quảng cáo theo hình thức tài trợ cho sở thích chung của nhóm.
Quảng cáo dựa trên lòng tin. Khi 123mua được tích hợp vào Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội hoặc Nhóm giao tiếp, công việc, điều này có nghĩa hành vi xem hàng hoá của thành viên Zing được theo dõi và thống kê. Bằng việc sử dụng tính năng hiển thị nhãn hoặc sản phẩm/ dịch vụ mà thành viên đã xem trong Trang cá nhân, Tình trạng, Cập nhật và gửi đến những người trong cùng mạng lưới. Hình thức này hiệu quả hơn quảng cáo thông thường do các nhãn/ sản phẩm/ dịch vụ được người thân quen của người tiêu dùng trẻ giới thiệu. Độ tin cậy cao dẫn đến quyết định mua hàng được đưa ra dễ dàng hơn, đồng thời hình thức quảng cáo này cũng dễ dàng kích thích người nhận quảng cáo kể với bạn bè. Điều này giúp tăng doanh thu của 123mua và hiệu quả quảng cáo trên Zing. Cách tính giá quảng cáo dựa trên hình thức CPM, CPC. Hình thức này cũng có thể gia tăng thêm doanh thu bằng việc cho phép bán gói quảng cáo theo nhân khẩu học hoặc Trang cá nhân cho các Doanh nghiệp sở hữu nhãn/ sản phẩm/ dịch vụ. Phần đông, người tiêu thụ quảng cáo tại Việt Nam nhận thức còn thấp, mua bán theo tâm lý bầy đàn nên hình thức quảng cáo này có đất dụng võ.
Hai hình thức quảng cáo trên chỉ có thể tốt trong điều kiện nhận thức của người quảng cáo được cải thiện, họ nhìn thấy lợi ích rõ rệt từ việc quảng cáo trên Zing thông qua các chỉ số media truyền thống. Việc này dẫn đến Zing hoặc hiệp hội quảng cáo Việt Nam cần phát triển một cơ sở lý luận giúp người quảng cáo thấy các chỉ số Web dễ hiểu và gần gũi với họ. Và việc tiếp theo là các hoạt động như PR, phát triển hệ thống bán hàng, … để đào tạo khách hàng tiềm năng trong một thời gian đủ dài. Điều này cần làm song song với việc xây dựng hệ thống chỉ số đo lường media trên Zing nếu không tiền vẫn cứ nhảy múa trước mắt mà không thể lấy được.
Quảng cáo trực tuyến với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam vẫn là hình thức khá xa vời. Việc áp dụng hình thức Bạn nhìn thấy gì bạn sẽ có như vậy đối với dịch vụ Quảng cáo trên Zing sẽ giúp người mua quảng cáo dễ ra quyết định hơn. Zing nên có một hệ thống đặt quảng cáo, hệ thống này liệt kê toàn bộ các vùng có thể quảng cáo và giá kèm theo. Người mua quảng cáo có thể chọn vùng muốn đặt quảng cáo để xem liệu vùng đó đã được mua hay chưa, xem trước quảng cáo họ chọn trên trang giả lập và giá tương ứng.
Với Zing Advertise, những người làm Marketing trở thành một phần của cộng đồng, cam kết với họ và tham gia vào các cuộc đối thoại. Họ không còn làm Marketing để dẫn khách hàng mục tiêu đến Site của họ, mà họ phải ở với khách hàng tại xã hội trực tuyến của họ.
Nguyễn Ngọc Phương‘s Blog





