Sự khác biệt giữa các công ty CNTT hai miền Nam Bắc

Filed Under (DSI-Tin hay trong ngày, bản tin công nghệ) by dearboy9x9 on 09-07-2009

Tagged Under : , , , ,

Khoảng gần 3 năm trở lại đây, tôi có thêm một niềm đam mê trong lĩnh vực địa lý và lịch sử. Trong những khoảng thời gian rảnh rỗi tôi vẫn thường lên Wikipedia để tìm đọc các tài liệu về vấn đề này, đôi lúc thấy vùng nào thú vị thì sắp xếp thời gian để đi tham quan tìm hiểu trực tiếp luôn. Từng bước tôi nhận thấy Việt Nam là một đất nước có rất nhiều khác biệt về địa lý lịch sử so với các quốc gia khác. Chính điều này đã tạo nên nhiều vùng miền khác nhau với những nét văn hóa rất đặc trưng, đặc biệt là hai vùng Nam Bắc. Sự khác biệt này không chỉ thể hiện ở các vấn đề thường ngày như cách suy nghĩ, giao tiếp, cư xử… mà còn lan rộng đến mọi ngóc ngách trong các lĩnh vực của xã hội ngày nay.

Lẽ dĩ nhiên, lĩnh vực CNTT cũng không ngoại lệ. Là một người làm về công nghệ sống trong Nam nhưng thỉnh thoảng cũng hay ra ngoài Bắc công tác nên tôi đã có cơ hội để tìm hiểu về những sự khác biệt thú vị trong lĩnh vực này.

1. Dáng vẻ bên ngoài

Các công ty phía Bắc dường như rất thận trọng trong việc thể hiện dáng vẻ bên ngoài, nên tôi có cảm giác hầu hết mọi công ty ngoài này đều rất “pro”. Do đó mỗi lần muốn gặp mặt, tôi đều phải thông qua người giới thiệu hoặc phải cố gắng làm một cái gì đó để thể hiện rằng ít ra mình cũng có một cái gì đó đủ để xứng tầm với họ. Sự thận trọng này không chỉ ở thể hiện ở bề ngoài mà còn ở trong cách ăn nói, nhiều lúc tôi phải rất cố gắng để hiểu ý tứ của mọi người sau mỗi câu nói là thế nào. Đây là kinh nghiệm do một sư huynh ngoài đó chỉ tôi “Ngoài Hà Nội này người ta nghe …chỉ để tham khảo, còn thực chất là phải hiểu đối phương đang muốn điều gì” ;))

Còn các công ty trong Nam thì nhìn phóng khoáng và bình dân hơn. Đôi lúc có một số đối tác tôi chủ động bắt chuyện, chỉ cần trao đổi một vài câu và thấy cách nói chuyện hợp nhau là đã có thể trở thành bạn bè, rồi rủ đi cafe tăng cường mối quan hệ. Ngoài ra, cách ăn nói của mọi người trong đây cũng khá thoải mái, đôi lúc gặp một số vấn đề khó xử mọi người cũng cố gắng để làm rõ mọi thứ, chứ không vòng vo như các đối tác phía Bắc :)

2. Chiến lược quản lý công ty

Do gần “lửa” hơn, nên các công ty phía Bắc hiểu rất rõ tầm quan trọng trong việc quan hệ ngoại giao và chính trị. Chính vì thế mà hầu hết đều dành rất nhiều nỗ lực cho các khâu liên quan đến vấn đề này như: quan hệ nhà nước, bán hàng, đầu tư…. Trong khi đó các công ty trong Nam sống trong môi trường thoải mái hơn nên đa phần đều có tư tưởng “Chỉ cần có ý tưởng tốt và thực lực mạnh, nhất định ta sẽ thành công”

Trong một cơ chế xã hội Việt Nam như hiện nay thì có thể dự đoán được phần nào là các công ty phía Bắc sẽ dễ thành công hơn, còn các công ty phía Nam sẽ gặp nhiều khó khăn với cách suy nghĩ của mình. Nhìn số lượng các công ty Internet được đầu tư mạo hiểm ở hai miền hiện nay có thể thấy được phần nào.

Tuy nhiên chính vì lý do này mà môi trường miền Nam sẽ rất thích hợp để các công ty gia công cho nước ngoài phát triển, ở lĩnh vực mà dựa phần lớn vào năng lực. Từ đó từng bước hình thành nên trong này một môi trường chuyên nghiệp trong cách làm cũng như quản lý. Chính vì vậy mà bản thân tôi nghĩ sau này đến một lúc nào đó Việt Nam có cơ hội tiến ra bên ngoài, thì các công ty trong Nam sẽ có nhiều lợi thế hơn hẳn so với các công ty phía Bắc.

3. Các mối quan hệ liên minh

Thực ra vấn đề này tôi cũng chưa dám khẳng định hoàn toàn nên chỉ nhìn ở góc độ cá nhân bản thân.

Tôi cũng có quan hệ với khá nhiều các công ty phía Bắc. Nhưng thực sự tôi chỉ dám đẩy mạnh một số mối quan hệ nhất định, chỉ khi mình thực sự hiểu và thấy có nhiều nét tương đồng với đối phương. Nguyên nhân là từ vấn đề tôi đã nêu ở trên, các công ty phía Bắc rất thận trọng trong giao tiếp và ý tứ của họ đôi lúc cũng khó đoán, nên nếu tiến xa mà chẳng may có một số mâu thuẫn nảy sinh thì quan hệ sẽ dễ dàng bị vỡ và gần như rất khó để hàn gắn. Nếu vậy thôi thì ta cứ anh anh em em vui vẻ vài câu giữ gìn mối quan hệ ở mức vừa đủ là ổn ^_^

Còn các công ty trong Nam thì thường nói chuyện thoải mái hơn. Anh em nói đủ mọi thứ trời trăng mây nước, rồi quan hệ tiến xa được tới đâu hay tới đấy ;)). Đôi lúc dẫn đến những mâu thuẫn đụng chạm tưởng chừng không thể hàn gắn được, nhưng mấy tháng sau từ từ mọi người cũng quên rồi anh em mình lại …cafe nói chuyện tiếp. Nói chung chỉ cần làm sao các bên đều cảm thấy hài lòng về quyền lợi của mình là ổn.

4. Bonus: Con trai CNTT miền Nam vs Con trai CNTT miền Bắc ^)^

Thỉnh thoảng có cơ hội giao lưu với các anh chị em hai miền tôi cũng hay “buôn dưa” khảo sát về vấn đề này, sẵn tiện làm sinh động thêm buổi nói chuyện

Có lẽ khi một cô gái miền Nam lấy một anh IT miền Bắc thì sẽ rất khó để thích nghi. Với tính cách thận trọng và hơi gia trưởng, các anh sẽ cố gắng tìm cách “lập trình” để các cô gái miền Nam đã quen với lối sống tự do từng bước đi vào các khuôn khổ phép tắc trong một gia đình miền Bắc.

Ngược lại khi một cô gái miền Bắc lấy được một anh IT miền Nam thì sẽ thật tuyệt vời :D. Với bản tính xuề xòa phóng khoáng của các anh, các cô chỉ cần lập trình lại các hoạt động trong ngày thì các anh cứ thế như vậy mà theo, rất ít khi cằn nhằn phản kháng :)

Đoạn này em PR cho các anh em IT phía Nam tí xíu, các anh IT miền Bắc đọc được thì thông cảm bỏ qua, đừng đập em ạ ^_^

5. Tổng kết

Tổng kết lại thì các công ty mỗi miền đều có những điều thú vị riêng cũng như các điểm mạnh yếu khác nhau. Chính vì thế mà sẽ thật lý tưởng nếu có được những công ty VN có thể tận dụng được những lợi thế tốt nhất của mỗi vùng miền. Đó sẽ là những công ty có bộ sậu ở ngoài Bắc làm các quan hệ ngoại giao chính trị, chiến lược công ty… Còn bộ phận trong Nam sẽ làm công việc nghiên cứu phát triển sản phẩm, khai thác sức mạnh của thị trường kinh tế lớn nhất nước, cũng như đảm nhận việc bành trướng ra bên ngoài sau này.

Đó cũng là mục tiêu mà một số công ty CNTT đang nỗ lực để đạt được. Với các công ty CNTT phía Bắc thì để trở thành số một VN, họ không chỉ phải chiếm lĩnh thị trường miền Bắc mà còn buộc phải “Nam tiến” để tạo được một thế đứng tại trung tâm kinh tế lớn nhất nước. Còn ngược lại với các công ty trong Nam thì e dè hơn, họ ngại va chạm với một thế giới ngầm của những mối quan hệ đằng sau một thủ đô cổ kính. Nhưng để lớn mạnh, họ vẫn phải làm và từng bước tìm cho mình những nhân vật có thế lực để len vào mớ quan hệ bòng bong này.

Và cuộc đua này vẫn đang diễn ra một cách âm thầm lặng lẽ, nhưng không kém phần quyết liệt. Theo suy nghĩ của tôi thì những công ty nào có thể khai thác được lợi thế tối ưu nhất của mỗi vùng miền sẽ có cơ hội lớn để trở thành những công ty tầm cỡ của Việt Nam cũng như đủ lực từng bước vươn ra cạnh tranh với các đối thủ lớn hơn của nước ngoài trong vòng những năm sắp tới :)

Các công ty Web 2.0: Đổi mới để trụ được trên cao

Filed Under (Tin tức) by dearboy9x9 on 07-07-2009

Tagged Under : , ,

Một công ty có thể đắm mình trong vinh quang, để rồi nhận ra mình đang đương đầu với những thách thức không thể vượt qua và đối mặt với nguy cơ bị rơi vào quên lãng. Quá trình này có thể mất nhiều năm, nhưng đó là số phận của những công ty từng bay bổng như Digital Equipment Corp. và Sun Microsystems Inc. Còn những công ty Web 2.0 thì sao?

Những công ty nào đang dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ cao cần quay đầu nhìn lại lịch sử ngành công nghiệp này để biết rằng vị trí rất cao của họ không phải lúc nào cũng an toàn.

Những mối đe dọa từ đối thủ mới

Thị trường Internet và Web 2.0 là một ví dụ điển hình. Một số công ty từng dẫn đầu như MySpace Inc. và Yahoo Inc. đã nhanh chóng mất thị phần về tay những đối thủ mới. Và giờ đây, những công ty khác, như Twitter Inc. và Facebook Inc., đang nỗ lực tránh đi theo vết xe đổ này.

walledgardens

Ngay cả những công ty rất thành công, như Google Inc., cũng thừa nhận rằng họ đang vật lộn với việc duy trì vị trí dẫn đầu trong những thị trường mà họ tham gia.

Ông Dan Olds, nhà phân tích chính tại công ty Gabriel Consulting Group Inc., nhận định: “Google, Facebook và Twitter là những công ty mà bất kỳ đối thủ nào cũng muốn đánh bại. Mọi người đều đang nhằm vào ba mục tiêu này.

Bất kỳ công ty Web 2.0 nào cũng muốn trở thành một Twitter, Facebook, hoặc mơ mộng cao hơn nữa, là một Google. Đây là những dịch vụ phổ biến mà công ty nào cũng muốn đạt được.”

Theo kịp những thay đổi về công nghệ

Việc chống đỡ những cuộc tấn công của đối thủ không chỉ đơn thuần là tiếp tục hình dung ra những gì người sử dụng cần và cung cấp cho họ. Đó còn là tìm cách để tiếp tục trụ lại được trên đỉnh cao của sự thành công. Theo ông Olds, điều này có nghĩa là cần tiếp tục tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chủ chốt và tránh bị sao nhãng. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, một điều hiển nhiên và quan trọng là phải theo kịp những thay đổi về công nghệ.

Ông Mike Schroepher, Phó chủ tịch kỹ thuật tại Facebook, cho rằng không có nghi ngờ gì về việc công nghệ đã giúp công ty qua mặt đối thủ MySpace, công ty tiên phong trong lĩnh vực kết nối xã hội. Theo ông, điểm khác biệt chính giữa hai công ty là Facebook xem mình là một công ty công nghệ, trong khi MySpace xem mình như là một công ty truyền thông nhiều hơn.

Chẳng hạn như khi Facebook muốn phát triển dịch vụ sang những nước không nói tiếng Anh, công ty này đã tạo ra một công cụ cho phép người sử dụng dịch những trang tiếng Anh sang ngôn ngữ khác. Cho đến nay, người sử dụng Facebook có thể dịch trang web sang 35 ngôn ngữ khác. Ông Andrew Lipsman, một nhà phân tích tại công ty comScore, nhận định rằng tính năng này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Facebook và giúp nó qua mặt MySpace.

Bất chấp những cách thức sáng tạo mà Facebook và Twitter nghĩ ra để thu hút người sử dụng, họ vẫn đang đối mặt với những thách thức mà Google đang nỗ lực vượt qua. Chẳng hạn như Google đang sử dụng doanh thu có được từ công cụ tìm kiếm phổ biến để tài trợ việc phát triển sản phẩm mới, như Google Maps, Google News và Google Health, trong nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu.

Twitter là một trường hợp đáng chú ý. Dù số lượng người sử dụng dịch vụ blog ngắn gọn này tăng vọt trong thời gian qua, đây vẫn chỉ là một trang blog chuyên dụng. Twitter thậm chí còn đang đối mặt với sự cạnh tranh từ Facebook. Mạng xã hội này vào tháng Ba vừa qua đã bổ sung một công cụ cho phép người sử dụng gửi những thông điệp ngắn cho một số lượng bạn bè không giới hạn. Sự thành công của Twitter cũng thu hút sự cạnh tranh từ những công ty mới thành lập đang hy vọng thay thế họ. John Byrne, một nhà phân tích tại công ty Technology Business Research Inc., nói rằng dù Twitter hiện đang đứng đầu trong lĩnh vực blog ngắn gọn, vị trí của họ là không chắc chắn.

Đáp lại, Biz Stone, người đồng sáng lập Twitter, cho biết công ty ông đã có kinh nghiệm trong việc đối đầu với những đối thủ mới khó chịu này. Ông nói thêm rằng danh sách mới nhất về những bản sao của Twitter của ông có khoảng 250 trang web. Theo ông, chìa khóa đối với Twitter vào thời điểm hiện nay là tìm cách tìm hiểu những đối thủ cạnh tranh tiềm năng, nhưng không để điều này ảnh hưởng đến tiến trình ra quyết định của mình.

Thay đổi để sinh tồn

Về phần Facebook, ông Olds ghi nhận rằng công ty này cần phải tiếp tục cập nhật và cải thiện các sự trải nghiệm của người sử dụng bằng cách bổ sung thêm tính năng và chức năng mới trong lúc giữ giao diện càng đơn giản càng tốt. Nếu làm được điều này, Facebook có nhiều khả năng duy trì được vị trí dẫn đầu của mình, vì người sử dụng nói chung khá miễn cưỡng trong việc chuyển đổi mạng xã hội. Ông Olds nói: “Facebook cần phải tập trung nhiều vào việc phục vụ đối tượng sử dụng của mình. Họ cần phải hiểu rõ người sử dụng muốn gì từ Facebook, trong lúc tìm kiếm những dịch vụ khác có thể phù hợp với trang web hoặc thậm chí là hợp tác với một dịch vụ mới như Twitter.”

Ông Michael T. Jones, một chuyên gia công nghệ tại Google, cũng nhất trí rằng sự đổi mới là yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công lâu dài. Ông nói: “Vấn đề thật sự là liên tục thay đổi bản thân để đương đầu với những thách thức. Điều này còn hơn cả một cuộc đua. Nó là một cuộc thi năm môn phối hợp. Chúng tôi từng giỏi chạy đua, giờ chúng tôi cần giỏi cả bơi.”

The ông Jones, Google đang cho phép mỗi một nhân viên, từ người mới nhất cho đến kỹ sư cấp cao, giúp công ty tìm ra những dịch vụ hấp dẫn mới. Những người này được phép dùng 20% thời gian làm việc để làm bất kỳ những gì họ muốn, từ kế hoạch kinh doanh mới cho đến một tính năng Google mới. Ông Jones nói: “Chúng tôi đang tạo ra những sản phẩm mà mọi người muốn, không phải những sản phẩm nằm trong kế hoạch kéo dài năm năm của mình. Liệu những giám đốc điều hành cao tuổi nhất có nghĩ ra được một dịch vụ như Twitter hay không ?”

Những bài học nói trên không chỉ dành riêng cho Google, Facebook hoặc Twitter. Sau khi nỗ lực lên được đỉnh cao, hầu hết các công ty cần quan tâm đến thực tế rằng không ai có lợi thế chiến lược lâu dài. Ngoài ra, việc luôn tập trung vào những gì cần làm để giữ cho khách hàng luôn được vui vẻ hài lòng, trong lúc mường tượng được họ sẽ cần gì sau này, là cả một nghệ thuật. Ông Jones đúc kết: “Nếu bạn muốn sống được mãi, bạn cần phải khác biệt sau 50 năm nữa, vì khách hàng khi đó sẽ không giống như hiện nay.”

Minh Huy - TBVTSG

Tín dụng di động - Cơ hội cho người nghèo?

Filed Under (DSI-Ecomerce) by dearboy9x9 on 30-06-2009

Tagged Under : , ,

Mobile-money-1.jpg

Nếu được áp dụng, người dân nghèo có thể sử dụng chính điện thoại di động của mình để chuyển tiền cho nhau, thanh toán các hóa đơn hay trở thành một chiếc sổ tiết kiệm.

Đáng chú ý là chính những nhà cung cấp dịch vụ di động và các ngân hàng lại là những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho xu thế mới mẻ này.

Trong khi thế giới cũng đã có không ít những dự án, chương trình tín dụng nhỏ mang lại cơ hội được tiếp cận với các nguồn vốn vay cho khoảng 100 triệu người trên khắp thế giới, rất nhiều những công ty viễn thông nằm trong Hiệp hội GSM toàn cầu (GSMA) lên tiếng khẳng định rằng, nếu các chương trình thanh toán và tín dụng qua di động của họ thành công, số người nghèo có thể vay vốn để làm ăn sẽ cao ít nhất là gấp 4 lần con số đó.

“Hình mẫu Grameenbank (các chương trình tín dụng nhỏ, đưa hình thức vay vốn về tận các thôn xóm) đã phát huy hiệu quả nhưng phạm vi ứng dụng của nó lại quá nhỏ”, Hannes van Rensburg, Tổng giám đốc của nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua di động Fundamo nói, “Vấn đề nằm ở chỗ “tính ì” của đồng tiền. Các khoản tiền nhỏ rất khó có cơ hội để lưu thông một cách nhanh chóng và phát huy hiệu quả”,

Fundamo là một công ty có trụ sở tại Nam Phi đồng thời cũng là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về phần mềm và dịch vụ tài chính di động cho mạng lưới các nhà mạng viễn thông và các ngân hàng. Hiện nay Fundamo đang chiếm 1/4 thị phần toàn cầu của lĩnh vực này với khoảng hơn 100 triệu giao dịch đã được thực hiện thông qua nền tảng của họ trong năm ngoái.

Điểm đặc biệt nhất là các giao dịch này có giá trị thấp nhất là 30 xu mỗi lần và đó cũng là cách dịch vụ tài chính di động đang áp dụng để nhắm đến các đối tượng là người nghèo có thu nhập dưới 2 USD/ngày.

Hiện nay vẫn có khoảng 3,5 tỷ người, tức khoảng 1/2 dân số thế giới không có tài khoản ngân hàng. Tuy vậy, hơn 1 tỷ người trong số này lại có điện thoại di động và theo ước tính của GSMA, đến năm 2012 con số này sẽ có tăng lên khoảng 1,7 tỷ người.

“Người nghèo đang thực hiện một khối lượng lớn các giao dịch tài chính nhưng mục đích cuối cùng của họ chỉ là để được tồn tại”, Stephen Rasmussen, người đang điều hành một chương trình ngân hàng qua điện thoại di động của CGAP dưới sự giám sát của World Bank nói.

Không chỉ là công cụ để giúp đỡ người nghèo, dịch vụ tín dụng qua di động đang bùng nổ với ước tính của GSMA rằng đến cuối năm nay sẽ có khoảng 120 nhà mạng chính thức áp dụng công nghệ và dịch vụ này. Tính đến nay, chỉ riêng tại châu Phi và Trung Đông đã có 23 quốc gia chính thức đưa công nghệ của Fundamo vào hoạt động trên một hoặc nhiều mạng di động của họ.

“Những chiếc điện thoại di động trả trước đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của thế giới trong suốt 5 năm qua nhưng tôi tin là tiềm năng của chúng vẫn còn chưa được khai thác hết”, Rasmussen nói, “Chúng tôi sẽ không hy vọng những chiếc điện thoại di động sẽ ngay lập tức đưa mọi người ra khỏi đói nghèo nhưng ít nhất đó cũng là một thứ công cụ giúp họ đạt được mục đích”.

Theo chuyên gia phân tích của hãng Juniper Research dự đoán thì tổng giá trị giao dịch hàng năm qua điện thoại di động để mua hàng hóa sẽ tăng trưởng gấp 5 lần trong 5 năm tới. Cũng theo đó, tổng giá trị của giao dịch qua di động trên toàn cầu đối với hàng hóa số hóa như nhạc, vé và game cùng những món hàng vật chất như sách sẽ vượt trên 300 tỉ USD/năm vào năm 2013.

Một báo cáo mới đây Juniper Research đã đánh giá thì vào năm 2011, tổng giá trị của các thanh toán qua di động cho hàng hóa số và vật lý, và những giao dịch dịch vụ tài chính trên di động, bao gồm cả thanh toán và chuyển tiền thực hiện qua NFC sẽ vượt quá 587 tỉ USD.

nguồn

“Tiểu thương @” kiếm bộn

Filed Under (Câu chuyện kinh doanh, Tin tức) by dearboy9x9 on 22-05-2009

Tagged Under : , , , ,

Phố phường tấp nập người mua, kẻ bán. Có một thị trường cũng sôi động như thế, nhưng trong một không gian rất khác: không gian ảo của những website mua bán. Ở đấy có nhiều tiểu thương biết tận dụng Internet để kiếm bộn tiền.

Bán hàng qua mạng đang thu hút nhiều thành phần tham gia. (Ảnh minh họa)

Internet đã thay đổi công việc kinh doanh của một phụ nữ đang phải một mình nuôi hai đứa con tuổi ăn, tuổi học. Và cũng chính nhờ Internet, gia đình nhỏ một mẹ hai con ấy đã thoát khỏi cảnh túng bấn ngay giữa phố thị đương buổi thóc cao gạo kém.

Đó là gia đình chị Nguyễn Bích Thủy, 37 tuổi, làm nghề buôn bán tự do. Tổ ấm của chị và hai đứa nhỏ là một căn hộ chia đôi trên tầng năm khu tập thể Thành Công - Hà Nội.

Chồng gặp bạo bệnh mất sớm, chị Thủy một mình vất vả nuôi hai con, đứa lớn đang học cấp hai, đứa nhỏ cấp một. Chi phí sinh hoạt gia đình, chi phí cho hai đứa con đi học, tất cả trông vào cửa hiệu quần áo nhỏ của chị trên phố Tôn Đức Thắng. Đó là một cửa hiệu nhỏ chừng 15 mét vuông, lọt thỏm giữa những cửa hiệu bề thế trên con phố buôn bán đông đúc.

Chị Thủy kể lại quãng thời gian lận đận trên phố lo miếng cơm manh áo nuôi thân và nuôi hai đứa nhỏ: “Vất vả lắm. Cửa hiệu nhỏ, hàng bày chẳng được bao nhiêu. Kinh doanh trên phố cần mặt tiền lớn nhưng mình không có. Một mình chạy ngược chạy xuôi lấy hàng về bán, cả tháng cũng chỉ lãi được một hai triệu bạc. Nghĩ đủ cách để bán được nhiều hàng mà lực bất tòng tâm”.

Câu “trời thương kẻ khó” xem ra đúng với chị Thủy. Đang lúc loay hoay tìm cách bán thêm nhiều hàng, tưởng đã chịu thua cái phận chân yếu tay mềm thì cửa hiệu của chị bất ngờ ăn nên làm ra trông thấy. Đấy là lúc chị bắt đầu biết dùng Internet để mở rộng bán hàng.

“Khi ấy mình có biết Internet nó tròn hay méo thế nào đâu. Cháu lớn chỉ cho đấy. Cháu nó rành vi tính, Internet lắm. Cháu nó bảo mình bây giờ rao hàng lên mạng dễ bán lắm” - chị Thủy kể lại, vẻ tự hào về cậu con trai lớn “siêu” máy tính. “Cháu nó giúp mình làm quen với máy tính, làm quen với Internet. Rồi cháu chỉ cho mình các website mua bán, hướng dẫn mình rao hàng lên đó. Bây giờ thì mình thạo cả rồi.”

“Trước kia mình phải đến tận các chủ buôn lớn ở khu vực chợ Đồng Xuân nhập hàng về bán. Có khi phải một thân một mình đi tận Quảng Châu, Trung Quốc lấy hàng. Hàng quần áo muốn nhập rẻ thì phải sang tận bên ấy. Mua được giá gốc, về bán mới có lãi cao. Bây giờ không phải đi nữa. Các chủ buôn lớn làm catalogue mẫu quần áo, giá cả rồi gửi cho khách qua email. Cứ có hàng mới là họ cập nhật catalogue rồi gửi cho mình. Mình chỉ việc ngồi nhà xem mẫu rồi gọi điện thoại là họ chuyển hàng đến. Tiện lắm!” - chị Thủy kể.

Internet giúp chị Thủy không phải vất cả đi lại lấy hàng. Quan trọng hơn, nhờ Internet, chị còn mở rộng phạm vi khách hàng, thoát ra khỏi cái cửa hiệu có diện tích và mặt tiền quá “khiêm tốn”. Chị Thủy cho biết, từ ngày rao hàng trên mạng, chị đã bán được số lượng quần áo nhiều gấp ba bốn lần trước kia. Doanh số tăng vụt, trong khi chi phí thêm chẳng đáng bao nhiêu.

“Nhờ mỗi cái máy tính nối mạng này thôi đấy” - chị hồ hởi. “Hàng lấy về mình chụp hình đưa lên mạng luôn. Thông tin giá cả, thông tin cửa hàng đầy đủ. Khách họ xem trên mạng thấy ưng là đến. Vì khách đã có thông tin sản phẩm từ trước rồi nên thường đến là họ mua. Trước kia, khách đi đường vào thì phải đến ba người xem mới có một người mua”.

“Không có một cái chợ hay trung tâm thương mại nào có hàng hóa đầy đủ như “chợ mạng” - anh Trung, một người có thói quen lên mạng tìm thông tin mỗi khi có nhu cầu mua sắm, quả quyết. “Hình ảnh, mô tả, giá thành sản phẩm được người bán đưa lên rất chi tiết. Xem thấy ưng mới đến mua hoặc gọi điện thoại họ sẽ mang đến tận nhà, tiện hết chỗ nói”.

Rất nhiều hàng hóa được các tiểu thương đưa lên website enbac.com

Những website mua bán được nhiều “tiểu thương” tham gia nhất là enbac.com, chodientu.com.vn, muare.vn… Mỗi ngày, hàng nghìn tiểu thương như chị Thủy rao và bán được hàng. Khách tăng đáng kể trong khi chi phí thêm chỉ là một chiếc máy tính nối mạng - một chi phí quá rẻ so với việc phải đăng quảng cáo hay thuê thêm điện tích, thêm mặt tiền.

Hiểu được lợi ích của Internet, những người kinh doanh như chị Thủy ngày càng coi trọng việc rao hàng qua mạng. Ở những thành phố lớn như Hà Nội và TPHCM, nơi người nhu tìm hiểu thông tin hàng hóa qua mạng ngày một nhiều, rất nhiều người đang biết dựa vào các website mua bán để bán hàng. Họ đã biết chọn một hình thức đầu tư ít tốn kém mà hiệu quả để có thêm khách hàng.

Kinh doanh qua mạng ngày càng phổ biến. Internet đang làm thay đổi tư duy của những tiểu thương xưa nay chỉ biết coi trọng vị trí, diện tích, mặt tiền cửa hiệu trên phố.

nguồn

Ngành thương mại điện tử: Khi nào có tên trong luật Doanh Nghiệp?

Filed Under (Tin tức) by dearboy9x9 on 10-05-2009

Tagged Under : , , , , , , , ,

Dự báo, thương mại điện tử sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam. Nhưng, có một thực tế là ngành “thương mại điện tử” vẫn chưa được công nhận là một ngành nghề kinh doanh.

Thương mại điện tử thành thương mại - điện tử

Trang web thương mại điện tử www.gophatdat.com

Năm 2005, khi tiến hành đăng ký kinh doanh tại sở KHĐT TP.HCM, ông Đinh Công Tuấn, giám đốc công ty điều hành trang website www.gophatdat.com đã không thể ghi vào giấy phép kinh doanh của mình tên công ty là công ty Thương Mại Điện Tử Tiên Phong mà phải thêm dấu gạch giữa (thương mại - điện tử ) vì lúc đó thương mại điện tử chưa phải là một ngành mà chỉ có ngành thương mại, ngành điện tử. Với tên gọi này, công ty nhận được rất nhiều thư của các đối tác nước ngoài mời làm đại lý… bán hàng điện tử dù rằng hoạt động của công ty thuần túy là kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp thông qua Internet (B2B) chứ không liên quan đến kinh doanh hàng điện tử.

Hiện nay, vướng mắc mà ông Tuấn muốn khắc phục là cái tên nói trên của công ty trong giấy phép đầu tư. Ông Tuấn muốn được đổi lại cho đúng với hoạt động của mình là thương mại điện tử (tổ chức san giao dịch trực tuyến, kết nối doanh nghiệp, tổ chức hội chợ trực tuyến). Một mặt là để tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài và xây dựng thành doanh nghiệp thương mại điện tử mạnh, mặt khác là để công ty có thể tham gia các chương trình hỗ trợ thuế theo đúng ngành nghề cung cấp. Tuy nhiên, thực tế là đến hiện nay, tình hình vẫn chưa mới hơn, đó là thương mại điện tử vẫn chưa được công nhận là ngành nghề riêng trong luật Doanh Nghiệp và do vậy chưa có mã ngành để đăng ký và thay tên gọi cũ.

Chưa có tên trong Luật

Theo ông Nguyễn Thành Hưng, cục trưởng cục Thương Mại Điện Tử và Công Nghệ Thông Tin, bộ Công Thương, thương mại điện tử chưa được công nhận là một ngành nghề như lu lịch, lữ hành… do chưa có tên “Thương Mại Điện Tử” trong luật Doanh Nghiệp. Tuy vậy, để thay đổi được điều này cần có thời gian và sự “chung sức” của nhiều cơ quan, hiệp hội và các doanh nghiệp.

“Cũng giống với ngành phần mềm, trước năm 1985, doanh nghiệp không thể đăng ký trong giấy phép kinh doanh là “kinh doanh phần mềm”. Sau đó, ngành phần mềm được công nhận nhưng đến trước năm 2000, người làm phần mềm vẫn rất khổ vì thuế làm phần mềm được tính như nhiều ngành nghề kinh doanh khác, chẳng hạn kinh doanh nhà hàng, khách sạn…

Cùng với sự phát triển và sự “đấu tranh” bền bỉ của nhiều cấp ngành, doanh nghiệp và đặc biệt là vai trò của hội Tin Học Việt Nam, năm 2000, phần mềm đã được Nhà Nước quan tâm và được hưởng nhiều chính sách ưu đãi cho đến nay”, ông Hưng cho biết.

Thương mại điện tử hiện cũng cần sự “xắn tay áo lên làm” của nhiều cơ quan ban ngành, tương tự như ngành phần mềm trước kia. “Cơ quan nhà nước phải đi đầu hỗ trợ cho thương mại điện tử phát triển vì nếu đợi đến khi tên ngành được ghi vào luật Doanh Nghiệp, ít nhất phải 5 năm nữa trong khi thực tế là ngành nghề này đã và đang phát triển. Theo tôi nghĩ các bộ Công Thương, bộ Kế Hoạch Đầu Tư cần cùng phối hợp ra một thông tư liên tịch thì sẽ giải quyết được vấn đề gặp phải của doanh nghiệp nói trên”, ông Hưng khẳng định.

nguồn

Mô hình kinh doanh cộng đồng trong giai đoạn mới

Filed Under (DSI-Ecomerce) by dearboy9x9 on 02-05-2009

Tagged Under : , , , , , , , ,

Đã có giai đoạn cộng đồng hình thành rất nhiều, cộng đồng die cũng rất nhiều. Nhưng có một vấn đề chúng ta cần suy nghĩ tại sao cộng đồng của Việt Nam không phát triển và tồn tại lâu như những cộng đồng của nước ngoài và chúng ta những người làm TMDT chúng ta làm gì để có thể kinh doanh trên nền tảng internet Việt Nam?

Một số yếu tố làm cho kinh doanh cộng đồng không phát triển

- Yếu tố con người: Người Việt Nam chỉ muốn khai thác trong khi đóng góp ít

- Yếu tố văn hóa:
Chúng ta không quen làm những việc to lớn, không xây dựng những công trình to lớn, nên cộng đồng của Việt Nam nên tập chung vào một đối tượng và làm tốt cho đối tượng ấy

- Yếu tố kinh tế: Chúng ta chưa thanh toán trực tuyến, khả năng tài chính còn có hạn. Dẫn tới việc kinh doanh quảng cáo mới thu được lợi nhuận còn kinh doanh thì không nhiều lắm.

- Khả năng của kỹ thuật: Chúng ta chưa có những người được đào tạo chuyên sâu về lập trình website, những người lập trình website lại không hiểu sản phẩm mình làm ra để làm gì ? Dẫn tới không có lửa trong sản phẩm. Dẫn tới người dùng sẽ không thoải mái với một sản phẩm như vậy.

Trong những bài viết tới đây tôi sẽ đề cập tới các dự án cộng đồng mà tôi sẽ làm dựa trên việc phân tích các yếu tố trên. Phân tích điểm thành công của dự án. Rất mong nhận được đóng góp của anh em

Ra mắt cổng thanh toán “Paypal Việt”

Filed Under (DSI-Ecomerce, DSI-Tin hay trong ngày, Thông tin cần biết cho sales, Tin tức) by dearboy9x9 on 27-04-2009

Tagged Under : , , ,

Bắt đầu từ hôm nay người Việt Nam có thể mua sắm hàng hóa trên trang web đấu giá trực tuyến toàn cầu eBay không cần có tài khoản Paypal.

Sáng nay, 27/4, liên doanh Chợđiệntử - eBay chính thức ra mắt cổng thanh toán trực tuyến dành cho thương mại điện tử nội địa và xuyên biên giới tại địa chỉ Nganluong.vn.

Ông Nguyễn Hòa Bình, Tổng giám đốc liên doanh Chợđiệntử - eBay cho biết cổng thanh toán điện tử Nganluong.vn là trung gian đứng ra chi và thu hộ cho người mua và người bán giống như mô hình cổng thanh toán quốc tế Paypal. Theo đó, người mua và người bán có thể lập tài khoản tài khoản trên Nganluong để tiến hành các giao dịch thương mại qua môi trường Internet. Nganluong không thu phí người mua, chỉ thu phí của người bán 1.000 đồng và 1% tổng giá trị của mỗi giao dịch.

Đặc biệt, Nganluong liên thông thanh toán độc quyền với eBay và Paypal. Các khách hàng Việt Nam có tài khoản tại Nganluong.vn có thể mua hàng trên eBay mà không cần có tài khoản trên Paypal. Liên doanh Chợđiệntử - eBay sẽ đứng ra làm đại diện lo các thủ tục vận chuyển, hải quan và giao hàng cho người mua tại Việt Nam trong khoảng thời gian 2 tuần.

Theo ông Bình, đây là giải pháp tối ưu nhất cho người Việt Nam có nhu cầu mua sắm trên eBay. Hiện nay, nhiều người bán hàng trên eBay không chấp nhận giao dịch với các tài khoản Paypal (cổng thanh toán trung gian dùng cho các giao dịch mua sắm trên eBay) tại Việt Nam do lo ngại tình trạng sử dụng thẻ tín dụng ăn cắp.

Hiện nay, Nganluong đã kết nối với một số ngân hàng như Vietcombank, ngân hàng Đông Á, Techcombank, VIB-Bank, và các khách hàng dùng thẻ VISA, Master, Amex hay JCB, cho phép chủ tài khoản của các ngân hàng này chuyển tiền sang tài khoản tại Nganluong.vn mà không cần qua các dịch vụ Internet Banking, Mobile-Banking. Ông Bình cho biết liên doanh Chợđiệntử - eBay đang tiếp tục mở rộng kết nối cổng thanh toán Nganluong với các ngân hàng khác. Bên cạnh đó, liên doanh này đã hợp tác với Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam triển khai dịch vụ nạp tiền vào tài khoản Nganluong.vn tại trên 3.000 điểm giao dịch bưu điện trên toàn quốc.

Không chỉ dùng phục vụ mua sắm trên eBay và trên trang web Chợđiệntử.vn, ông Bình cho biết sẵn sàng tích hợp miễn phí công cụ thanh toán Nganluong.vn cho các trang web thương mại điện tử và các cá nhân có nhu cầu bán hàng qua mạng.

Sau 4 tháng thử nghiệm, Nganluong.vn đã có trên 50.000 tài khoản thanh toán trực tuyến. Công ty cổ phần thế giới Trần Anh và Trung tâm An ninh mạng Bách Khoa đã tích hợp công cụ thanh toán Nganluong.vn để bán hàng trực tuyến.

Hôn phối giữa Thương mại Điện tử và Bán hàng trên Truyền hình có thành công?

Filed Under (DSI-Ecomerce) by dearboy9x9 on 12-12-2008

Tagged Under : , , , ,

Một anh có sẵn tài chính, công nghệ, sản phẩm kết hợp với anh truyền thông, mô hình kết hợp này đang từng bước thể hiện hiệu quả của mình.

Thương mại Điện tử tại Việt Nam có cơ hội phát triển hay không? Rất nhiều đối tác đã đặt câu hỏi với tôi trước khi họ thất bại trong lĩnh vực mới này. Có lẽ tôi đã quá cứng nhắc khi đưa ra những tiêu chuẩn nhất định đối với mô hình kinh doanh của họ. Và cũng có lẽ những tiêu chuẩn quá dài để họ đủ kiên nhẫn đọc hết trước khi quẳng vào sọt rác.

Bạn đã nghe nhiều về xu hướng hội tụ trong Công nghệ Thông tin, trong bài viết này tôi giới thiệu về Hội tụ đối với lĩnh vực Thương mại Điện tử. Mô hình là sự kết hợp của Kênh Web Thương mại điện tử và bán hàng trên Truyền hình.

Đến đây chắc hẳn bạn thốt lên”Tưởng gì”. “Đúng rồi!” Bạn cũng đã quen thuộc với hình thức bán hàng qua Info TV. Hình ảnh những cô dẫn chương trình với nụ cười rạng rỡ luôn giúp bạn thấy thoải mái sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi. Tuy nhiên hình thức này có bán được nhiều hàng hoá không? Mỗi ngày cũng chỉ có 18 giờ khách hàng của bạn có thể xem truyền hình. Thời lượng thì có hạn nhưng số lượng sản phẩm thì quá nhiều. Sự hạn chế này khiến chi phí quảng bá trên Truyền hình trở lên khá lớn đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vậy liệu doanh thu có đủ bù đắp cho chi phí?

Trong những năm gần đây, các Website Thương mại Điện tử mọc lên như nấm sau cơn mưa hội nhập Kinh tế. Tuy nhiên bao nhiêu Website thực sự có thu đủ bù chi? Khi hầu hết đều chỉ giải quyết bài toán trưng bày hàng hoá trên Internet và mong chờ mọi người nhấn chuột vào Website của mình.

Vậy điều gì khiến bài toán tạo ra tiền lại trở lên khó khăn với các Doanh nghiệp? Phải chăng họ đều gặp vấn đề Mô hình Kinh doanh thiếu tính khả thi.

Tại sao nên kết hợp hai kênh

Việc kết hợp 2 kênh nhằm mục đích bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhiều Doanh nghiệp tham gia đăng hàng hoá trên Web Thương mại điện tử.

Mua hàng qua Truyền hình là nói đến bán hàng thông qua các nhân vật. Trong cái màn hình nhỏ nhắn, những khuôn mặt, khung cảnh và hàng hoá hiện ra vào cùng giờ hàng tuần. Ti vi thường được đặt trong phòng khách hoặc phòng ngủ và nhiều người quen biết nhau cùng xem. Người xem có thể ngồi, nằm, … hoặc bất cứ tư thế nào khiến họ cảm thấy thoải mái. Và họ có thể lựa chọn nhiều kênh truyền hình khác nhau chỉ với một vài nút bấm. Người tiêu dùng có thể gọi điện thoại và đặt mua hàng hoá. Tuy nhiên họ thụ động nhận các thông tin về hàng hoá được phát ra từ Ti vi. Tần suất và thời lượng phát sóng bị giới hạn bởi chi phí nên không dễ dàng xem lại thông tin đã phát. Ti vi giờ đây đã trở thành vật dụng phổ biến tại Việt Nam từ thành thị tới nông thôn. Người tiêu dùng thích mua hàng qua Truyền hình vì họ cảm thấy thoải mái và thích đúng giờ nào đó họ xem thông tin mà họ ưa thích.

Web Thương mại Điện tử là nói đến bán hàng thông qua trưng bày Thông tin phong phú. Web cho phép người tiêu dùng tương tác với các dữ liệu; cho phép xem theo cách họ muốn vào bất cứ khi nào. Với Web, người dùng phải ngồi trước màn hình với khoảng cách gần, tư thế ngồi không thoải mái. Một vài người có thể cùng xem một màn hình tuy nhiên thông thường họ ngồi một mình. Người dùng Web chủ động ra lệnh cho Website và Website tuân theo. Internet mới phổ biến tại các thành phố lớn, trong khi tại khu vực nông thôn nhiều hộ gia đình vẫn chưa có cơ hội tiếp xúc với Internet. Người tiêu dùng thích mua hàng qua Web vì họ được chủ động lựa chọn sản phẩm và có môi trường để họ thỏa thích xem nhiều cách.

Dễ dàng nhận thấy mỗi mô hình đều có điểm mạnh và điểm yếu bù trừ lẫn nhau. Việc kết hợp hai kênh sẽ tạo ra sự cộng hưởng cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực Thương mại Điện tử. Lợi ích thu về giống như 2+2=5.

Tuy nhiên, tại Việt Nam cả hai kênh đều có điểm yếu là thanh toán thông qua sự trợ giúp của ATM thậm chí là tiền mặt. Gần đây nhất có thanh toán thông qua “ví” điện tử với dịch vụ của VNPay, Vina pay hoặc hỗ trợ thanh toán trực tuyến từ những ngân hàng như Đông Á, Eximbank.

Bạn lại cười rồi. Tôi đoán bạn đang nghĩ tại sao lại xẻo thịt cô bò sữa để nuôi chàng chuột bạch phải không? Sự kết hợp không đồng nghĩa với việc sở hữu một kênh truyền hình. Một anh có sẵn tài chính, công nghệ, sản phẩm kết hợp với anh truyền thông, chẳng phải rút ngắn thời gian chạy đua vũ trang hay sao? Nếu anh chỉ có một phần sức mạnh anh cần kết hôn, còn nếu anh đủ tài chính, công nghệ, sản phẩm và truyền hình thì đường rộng thênh thang, anh nên chạy. Hiện tại, ứng cử viên trong lĩnh vực truyền hình có thể kết hợp tại Việt Nam là Home Shopping ( HTVC), 25h.vn ( HTV), và Shopping TV ( VCTV)

Số lượng Web site định hướng Thương mại Điện tử tại Việt Nam lên đến hàng nghìn Site, tuy nhiên những Site TMĐT có chủ trương phối kết hợp với truyền hình thì đếm trên đầu ngón tay. Trong mô hình này, đơn vị Thương mại Điện tử có vai trò trung gian như một Siêu thị cho thuê địa điểm trưng bày hàng hoá trên Website, thu phí giao dịch đồng thời bán giờ phát sóng quảng bá sản phẩm của Doanh nghiệp trên Truyền hình. Mô hình lợi nhuận xoay quanh Trung tâm xử lý và dữ liệu của hệ thống với đầu ra là Web Thương mại điện tử và bán hàng qua Truyền hình.

Điểm mạnh của truyền hình là bất kỳ Doanh nghiệp nào cũng muốn được quảng bá do họ nhận thức rõ hiệu quả truyền thông, tuy nhiên điểm yếu là chi phí phát sóng cao, khách hàng khi muốn xem lại hàng hoá thì không thể; trong khi điểm mạnh của Web là chi phí thấp, cho phép khách hàng xem hàng hoá, dịch vụ theo nhiều cách khác nhau vào bất cứ lúc nào, tuy nhiên điểm yếu là các rào cản Thương mại Điện tử khiến người tiêu dùng khó tiếp cận với dịch vụ bán hàng trực tuyến. Đại đa số Doanh nghiệp đều có nhận thức nguồn thu từ việc đầu tư vào Thương mại Điện tử là rất mong manh.

Chính vì vậy cách thức thu hút Doanh nghiệp cung cấp thông tin hàng hoá phải bắt nguồn từ chính sách giá của quảng cáo trên Truyền hình. Hãng kinh doanh TMĐT một mặt nên chiết khấu giá phát quảng cáo cho các Doanh nghiệp trên truyền hình đồng thời tăng vùng quảng cáo trên truyền hình và đưa truyền hình tương tác vào, mặt khác trưng bày các hàng hoá, dịch vụ đã giới thiệu trên truyền hình với giá thấp hơn thị trường tại cửa hàng trực tuyến. Đối với các Doanh nghiệp muốn bán hàng, để được quảng cáo trên truyền hình, các mặt hàng, dịch vụ quảng cáo trên Web TMĐT phải thấp hơn thị trường. Giá bán trên Web đã bao gồm lợi nhuận cộng giá vốn hàng bán và các chi phí khác từ phí lưu kho ( nếu có) tới phí chuyển đến tay người tiêu dùng hoặc tính phí thấp trong một thời gian đầu tư.

Doanh nghiệp Thương mại điện tử ngoài việc thu lợi nhuận từ phí phát sóng và bán hàng giảm giá trên Web với sự phối hợp của Truyền hình và Web. Bằng việc phân tích dữ liệu trên Web, Doanh nghiệp có thể nắm bắt xu hướng thị trường một cách khá toàn diện để từ đó đưa ra chiến lược tồn kho, bán báo cáo điều tra thị trường cho các Doanh nghiệp hàng tiêu dùng.

Để phát triển thị trường, Doanh nghiệp thường phát triển hệ thống bán hàng, phân phối tuy nhiên với sự mới lạ, hữu ích và ít ỏi của các kênh bán hàng trên truyền hình, công cụ truyền thông và bán hàng này cũng có sức đào tạo và nâng cao nhận thức người tiêu dùng khá tốt.

Để xây dựng một công ty TMĐT như vậy, một trong những cách ít rủi ro là có sự đồng tham gia của các Doanh nghiệp truyền hình, truyền thông, phân phối và vận tải.

Dưới đây là mô hình đề xuất ngắn gọn:

Photobucket

Hiện tại có 5 kênh truyền hình trả tiền Home Shopping ( HTVC), 25h.vn ( HTV), O2TV, Shopping TV ( VCTV) và InfoTV, trong đó có 2 kênh kết hợp với Web Thương mại Điện tử là 25h.vn và Shopping TV. 25h.vn được phát sóng vào lúc 18h20 hàng ngày, Shopping TV sở hữu kênh truyền hình riêng hiện tại đang chạy thử nghiệm. Mỗi đơn vị đều có cách đi riêng của mình, tuy nhiên sự hạn chế về xu hướng, tâm lý và hành vi người tiêu dùng trực tuyến chưa cao nên bài toán làm sao ra tiền từ trực tuyến vẫn là câu hỏi để ngỏ.

Bản thân tôi cũng đã có dịp làm việc với 2 đơn vị và có những góp ý nhất định tuy nhiên có nhiều rào cản khiến mô hình được triển khai khá chậm chạp. Tuy nhiên trong tương lai mô hình này cũng rất có tiềm năng.

Hy vọng trong 2 năm tới, thị trường, công nghệ sẽ có nhiều chuyển biến và những người tiêu dùng lười biếng như tôi có thể ngồi tại nhà và mua sản phẩm giá thấp tại các siêu thị trực tuyến.

theo blog của anh Nguyễn Ngọc Phương

Chiến lược và vấn đề của Zing

Filed Under (DSI-Ecomerce, DSI-Tin hay trong ngày) by dearboy9x9 on 12-12-2008

Tagged Under : , , , ,

Trong thời gian gần đây, Zing thực hiện một loạt động thái chiến lược bao gồm: nâng cấp UI cổng thông tin giải trí, ZMovie, ZChat 1 lên ZChat 2 cũng như thay đổi cách thức Marketing; thay đổi giao diện và nội dung ZStar, ZPhoto, ZVideo, ZMail, ZPlay; đầu tư vào công cụ tìm kiếm ZSearch, gộp ZDirectory vào ZSearch; chuyển Yobanbe về Zing; thành lập Zing Advertise để bán quảng cáo trên Cổng thông tin giải trí trực tuyến Zing.

Lý luận của Zing

Gần 60% dân số Việt Nam là những người trẻ ở độ tuổi dưới 30. Lứa tuổi 15-24 là những người chơi Game chủ yếu. Họ hầu hết chưa tự làm ra tiền nhưng có khả năng gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhu cầu và quyết định mua sắm của các nhóm tiêu dùng khác, chẳng hạn cha mẹ và họ thích tiêu sài.

Theo báo cáo Mindshare Việt Nam đưa ra tại Hội thảo “Tiếp thị Việt Nam 2007 - thách thức và cơ hội”, 68% thanh niên cho biết nhãn hiệu là điều họ quan tâm nhất khi mua hàng, khoảng 73% thanh niên sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm có chất lượng. Cũng có hơn 70% thanh niên tìm mua hàng hay dịch vụ dựa trên những thông tin quảng cáo. Tuy nhiên, giới trẻ Việt Nam không chạy theo nhiều ảnh hưởng bên ngoài mà gắn chặt với những giá trị truyền thống.

Khảo sát cũng cho thấy 92% bạn trẻ thường download âm nhạc vào điện thoại, 73% download nhạc chuông, 50% chơi game, 44% download screensaver, 20% xem phim, 18% gửi thiệp và 5% nhận và viết email. Rõ ràng đây là một thị trường béo bở cho các nhà marketing.

Xu hướng thói quen xem tivi, nghe nhạc và đọc sách trong thanh niên trước kia giờ đã giảm, mà thay vào đó là sự gia tăng của việc thích ra phố, chơi thể thao, chơi game và lướt net. Giới trẻ Việt Nam đã bắt đầu quan tâm nhiều đến các phương tiện và sản phẩm kỹ thuật số, và xu hướng này cũng bắt đầu lấn át các sản phẩm truyền thông truyền thống. Những vật dụng mà giới trẻ Việt Nam hiện nay thích nhất là xe gắn máy, điện thoại di động, laptop, iPod, đồ thời trang, …

Theo Báo Tư vấn Tiêu dùng, sau 10 năm nữa, dân số Việt Nam vẫn sẽ là dân số trẻ. Và những người tiêu dùng trẻ của ngày hôm nay có thành một lượng khách hàng trung thành khổng lồ và có khả năng định hướng tiêu dùng cho một thế hệ kế tiếp.

Hầu hết các công ty thương mại và sản xuất Việt Nam đều thiếu chiến lược từ sản phẩm tới marketing, quảng cáo tới người tiêu dùng trên Internet. Và đây là lý do để VinaGame chuyển mình từ một thương hiệu Game trực tuyến thành một tổ hợp thương mại - giải trí – công nghệ - truyền thông – thông tin trực tuyến.

Vấn đề của Zing

Chưa khai thác khai thác sâu dữ liệu có giá trị. Các dữ liệu bao gồm thông tin cá nhân, tình trạng cá nhân, quan hệ, liên hệ, kết nối, cập nhật. Zing chỉ mới giải quyết bề nổi của sở thích, mong muốn của người sử dụng.

Sản phẩm chưa sắc bén. Zing là sự pha trộn của nhiều dòng sản phẩm nhắm nhiều phân khúc thị trường trùng nhau, trong đó có nhiều dòng sản phẩm tương khắc lẫn nhau. Zing cũng là sự kết hợp cổng thông tin, giải trí thiên về chia sẻ nội dung với nhiều sản phẩm như các web tiện ích, mạng xã hội.

Mức độ tương tác trong các sản phẩm chênh lệch cao. Tính tương tác và người dùng tạo nội dung trên Zing ở mức trung bình khá, mức độ chênh lệch giữa các sản phẩm cao.

Tồn tại 2 nền tảng khác biệt Yobanbe và Zing. Yobanbe bản thân là một mạng xã hội pha trộn giữa mô hình tôi-bạn và tập trung nội dung. Zing là một cổng thông tin, giải trí trong đó có tính năng chia sẻ nội dung.

Bốn chiến lược

Sau hơn một năm đầu tư cho cơ sở hạ tầng và thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ, tháng 8 năm 2008 Zing đã chính thức tung ra chuỗi dịch vụ trực tuyến và trung tâm quảng cáo Zing Advertise, từ đó bắt đầu vắt sữa bạn bò được chăm nuôi bởi VinaGame. Mỗi sản phẩm sinh ra đều có sứ mệnh riêng của nó. Với Zing chúng cần phải thu hút lượt truy nhập, và khi đã hoàn thành sứ mệnh chúng được đếm là còn 13 dịch vụ. VinaGame nên thực thi bốn chiến lược dưới đây để đưa Zing đến một tầm cao mới.

1. Chiến lược liên kết nhãn. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích nhắm vào khách hàng mục tiêu. Dịch vụ tính phí như Game trực tuyến được đưa vào Zing dưới dạng quảng cáo banner hoặc tài trợ. Chiến lược này bao gồm sự kết hợp với các hoạt động truyền thông của dịch vụ tính phí, từ đó tạo hiệu ứng lan toả nhãn giữa Zing và dịch vụ tính phí và ngược lại.

2. Chiến lược đồng hoá. Xây dựng một tài khoản thông tin cá nhân duy nhất, xuyên suốt toàn bộ các dịch vụ giải trí của Zing và dịch vụ tính phí. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích nhắm vào khách hàng mục tiêu. Dịch vụ tính phí không xuất hiện trong Zing mà như một thành phần cốt lõi, gắn chặt với tài khoản và trải rộng trên các tài nguyên của Zing. Tăng các hoạt động sử dụng đồng tiền của dịch vụ tính phí vào các hoạt động giải trí mang tính xã hội của Zing. Giảm thiểu quảng cáo về dịch vụ tính phí, phối hợp thông điệp và sản phẩm tác động từ từ nhưng lâu dài vào trí nhớ của người dùng.

3. Chiến lược tăng lưu lượng truy nhập và lòng tin để bán quảng cáo. Đẩy mạnh nội dung và các ứng dụng tiện ích phục vụ đa phân khúc, những phân khúc có khả năng tài chính và cởi mở trong chi tiêu. Cần xây dựng các giải pháp quảng cáo dựa trên sự tin cậy và các ứng dụng đo lường các chỉ số thiết yếu phục vụ media và hiệu quả của nó.

4. Chiến lược thu thập trải nghiệm người dùng để phát triển sản phẩm khai thác thị trường ngách. Cần tăng thêm tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định và di động. Cần xây dựng các hệ thống phân tích hành vi người sử dụng để tìm ra nhu cầu mới.

Ba nhóm sản phẩm

ZChat, ZMail, ZSearch, Game trực tuyến là các ứng dụng “huỷ diệt” Zing. Khi các ứng dụng đó phát triển mức cao, đáp ứng những nhu cầu chuyên biệt của các nhóm người dùng khác nhau, thì người dùng của VinaGame sẽ chia thành những nhóm sử dụng dịch vụ với những mong muốn lợi ích khác nhau. Họ hầu như ít khi sử dụng thêm các dịch vụ khác của VinaGame. Các dịch vụ tương khắc được đặt trong cùng một môi trường dẫn đến giảm giá trị tổng thể các dịch vụ của VinaGame. Giải pháp là những dịch vụ liên quan được tập hợp thành những trung tâm với nhân tố chính là những dịch vụ có vòng đời dài. Chúng có thể được kết hợp với dịch vụ có tính kết nối, cộng đồng; có thể tích hợp các dịch vụ huỷ diệt vào các ứng dụng giải trí – tin tức ở mức tính năng đơn giản nhưng tạo ra sự kết nối, tính cộng đồng cao; tạo một nơi làm điểm bắt đầu - kết thúc của tất cả các dịch vụ cổng thông tin - mạng xã hội, .

Zing cần tăng tính năng tính điểm trong Zing như ZPlay & ZCity để tăng điểm Kinh nghiệm Game trực tuyến, đồng thời cho phép thành viên sử dụng chúng để chi trả cho các hoạt động giải trí trên mạng xã hội của Zing. Đây là một phương pháp đào tạo thành viên quen với đơn vị tiền tệ của Game trực tuyến, là cầu nối giúp người dùng Zing đến gần hơn với Game trực tuyến và ngược lại, đồng thời tạo nguồn thu cho Zing.

Trong giai đoạn một, Zing tập trung vào xây dựng Cơ sở hạ tầng và thử nghiệm các ý tưởng dịch vụ trực tuyến. Mục đích của giai đoạn này nhằm nâng cao nhận thức người dùng và nghiên cứu các nhu cầu & mong muốn của người dung từ đó phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người dùng mục tiêu hơn. Tuy nhiên sự phát triển dựa trên mô hình chiến lược tổng thể chưa hoàn thiện dẫn đến việc nhiều ứng dụng phình to quá giới hạn cần thiết cũng như xương sống của hệ thống sản phẩm không vững chắc. Điều này khiến Zing sẽ phải tiêu tốn nhiều nguồn lực để hiệu chỉnh để có một hệ thống dịch vụ trực tuyến mang tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định trong giai đoạn hai. Từ đó góp phần vào tạo giá trị cho tổng thể các nhãn cũng như sống độc lập.

Sự bắt đầu cho giai đoạn hai cũng là lúc chuẩn bị cho giai đoạn ba. Giai đoan tăng năng lực truyền thông của những sản phẩm trụ cột và năng lực liên kết, tích hợp của các nhóm sản phẩm cùng chung nhóm khách hàng mục tiêu. Những sản phẩm trụ cột có thể bao trùm nhóm người dùng mục tiêu của Game trực tuyến hoặc nhóm người dùng trẻ có khả năng tài chính, chịu chi hoặc nhóm người dùng trẻ, năng động có công việc hoặc phục vụ cho toàn bộ thị trường. Chúng ta chia sản phẩm của Zing thành 3 nhóm và dựa trên 4 chiến lược chính.

- Nhóm thu thập trải nghiệm và hành vi người dùng trực tuyến với nhân tố then chốt là Dịch vụ ZSeach. Nhóm này cần có thương hiệu riêng, chúng nhắm vào nhóm người dùng phổ thông, bất cứ ai sử dụng Internet

- Nhóm giao tiếp, công việc với nhân tố chính là Dịch vụ ZMail, ZChat, chúng cũng cần tách ra thành thương hiệu riêng chúng nhắm vào Nhóm người dùng trẻ, năng động, sử dụng cho mục đích công việc, giao tiếp

- Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội giải trí bao gồm các dịch vụ thông tin, giải trí trực tuyến và vẫn sử dụng thương hiệu Zing tuy nhiên cần nâng cấp toàn bộ các dịch vụ bằng việc thêm tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định, di động và thương mại. Nhóm này cũng cần có một trang bắt đầu - kết thúc cho tất cả các dịch vụ, một tài khoản dùng chung xuyên suốt các dịch vụ Game trực tuyến, thương mại, mạng xã hội, tìm kiếm, thư điện tử và các dịch vụ khác và tính điểm bằng đồng tiền riêng của VinaGame cho toàn bộ các nỗ lực của người dùng trên tất cả các dịch vụ trực tuyến của Zing. Chúng nhắm vào Nhóm người dùng trẻ ham vui, muốn giải trí, tìm thông tin. Nỗ lực của nhãn này có tác động lớn đến thương hiệu và doanh thu của các dịch vụ Game trực tuyến.

Cấu trúc sản phẩm đề xuất cho Zing


Độ dày của đường kết nối thể hiện mức độ quan hệ giữa các sản phẩm.

Với thị trường có 28,3 triệu thuê bao di động, 20,1 triệu người dùng Internet và có 65% dân số dưới 30 tuổi sử dụng công nghệ cao, đây là cơ sở tốt để phát triển công cụ tìm kiếm phục vụ nhu cầu bản địa trên Internet và Mobile. Nhưng thay vì sử dụng sở đoản để đối đấu với Google, Yahoo, ZSearch nên đi theo hướng khác biệt, phát triển công cụ tìm kiếm tập trung vào các nhu cầu chuyên biệt của người dùng trẻ Việt Nam. Hiện có hai đối thủ Việt lớn Zing cần quan tâm là Baamboo.vn và Xalo.vn, tuy nhiên ZSearch có lợi thế sân sau là cổng Zing nên khả năng tiếp cận người dùng trẻ của Zing tốt hơn các đối thủ. Trong giai đoạn đầu, ZSearch có nhiệm vụ tác động vào trí nhớ và con tim của người dùng dưới 30 tuổi. Khi nhóm này đã cam kết với nhãn ZSearch, ZSearch bước sang giai đoạn hai, giai đoạn tác động đến phân khúc 30-40 tuổi. Ghi chú, nhóm 25 – 30 tuổi tuy chỉ chiếm 8% dân số Việt Nam nhưng họ không chỉ sử dụng Internet, Mobile cho mục đích tìm thông tin, giải trí, mà họ còn sử dụng trong giao tiếp, công việc. Việc phát triển các tính năng hỗ trợ công việc cho họ và được bản địa hoá rất quan trọng.

Việc tạo sự khác biệt với đối thủ như Google, Yahoo dường như đang bị lạm dụng quá mức tại Việt Nam. Nhiều công cụ tìm kiếm nội địa hối hả xác định và chia các phân khúc thị trường ngày càng nhỏ hơn dẫn đến nhiều sản phẩm và thị trường một đối một với khách hàng. Đầu tư liên tục để vượt qua đối thủ nhưng thị trường ngách nhỏ lại quá mức, dẫn đến lợi nhuận không tăng theo mức độ đầu tư trong khi khối lượng thị trường không tăng lên. Ví dụ dịch vụ Tìm kiếm nhạc và cho phép nghe nhạc chất lượng cao trực tuyến, Tìm kiếm sách.

Nhóm dịch vụ ZMail, ZChat phục vụ nhu cầu giao tiếp, công việc nên chúng có điểm nổi bật là phục vụ nhu cầu giao tiếp của nhóm 15 – 24 tuổi và giao tiếp công việc của nhóm người dùng trên 25 tuổi. Ngoài việc tạo một trung tâm với việc đưa ZChat và các ứng dụng phục vụ giao tiếp công việc vào trong ZMail, trung tâm này cũng phải được bản địa hoá để khác biệt với các đối thủ như Yahoo, Gmail. Để mở rộng thị trường, Zing cần trao quyền đại lý cho người dùng cá nhân để họ tự tích hợp ZChat vào các mạng xã hội, trang thông tin, trang thương mại B2B, B2C, C2C, diễn đàn. Cũng tương tự như chiến lược của Nhóm thu thập trải nghiệm & hành vi người dùng trực tuyến, Nhóm này cần tập trung khai thác nhóm 15 – 24 tuổi và nhóm 25 -30 tuổi trước khi mở rộng ra.

Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội vẫn tập trung vào nhóm người 15 – 30 tuổi, nhóm người sử dụng chủ yếu trên Zing hiện tại. Nhìn xa hơn nhóm người tiêu dùng trẻ đang chiếm khoảng trên 65-70% tổng nhu cầu mua sắm tiêu dùng xã hội. Đây là nhóm người mua sắm áp đảo trong nhiều lĩnh vực, nhất là các sản phẩm công nghệ cao, tiêu dùng cao cấp và nhiều dịch vụ hiện đại khác… Nên việc cấp thiết của Zing là gia tăng tính xã hội, hợp nhất, cá nhân, ổn định để tăng lòng trung thành của người dùng, tạo hiệu ứng quảng bá truyền khẩu, đồng thời phát triển nội dung, thẩm mỹ và tính năng sao cho phù hợp với đặc tính của nhóm tiêu dùng để hút quảng cáo của các ngành hàng muốn bán hàng cho nhóm tiêu dùng đó.

Phân khúc người dùng trẻ mà Zing nhắm tới cũng là phân khúc đang được tranh giành bởi hầu hết các dịch vụ trực tuyến. Trên mô hình là ba phân khúc bên tay trái, tuy nhiên chúng chiếm tỉ lệ lớn trên tổng số người sử dụng Internet tại Việt Nam. Năm 2006, có 82% thanh thiếu niên Việt Nam sử dụng thành thạo Internet. Phần lớn số này nằm trong độ tuổi 15-19. Tỷ lệ đối với nhóm tuổi 20-24 là 74%, còn số người biết cách lướt web ở VN nói chung chiếm 45%. Dựa trên khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofres (TNS) Việt Nam. Kể từ phân khúc thứ tư, chúng loại bỏ những người dùng tiềm năng của Zing, chúng là những thị trường ngách, dễ dàng tiếp cận, chi phí đầu tư thấp. Trong 3 nhóm sản phẩm của Zing, Nhóm ZSearch, cổng thông tin, mạng xã hội có nhiệm vụ thống kê, đánh giá nhu cầu và mong muốn của 3 phân khúc đầu và các thị trường ngách nằm ở đuôi trong hình trên.

Được xếp thứ nhì châu Á về tỉ lệ dân số trẻ, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển các kênh truyền thông điện thoại di động. Tuy nhiên, xét trên bình diện rộng hơn, dân số nông thôn Việt Nam cũng chiếm đến 76,5% dân số. Cộng thêm vào đó là 13,6% dân số thành thị sinh sống tại các thành phố cấp 2. Gần 60% dân số ở các khu vực này có thu nhập thấp, dưới 1,5 triệu đồng/ tháng, nên việc phát triển các phương tiện hiện đại còn cần một thời gian rất dài. Ngoài ra, “Cuộc khảo sát nông thôn thí điểm của TNS Vietnam và TNS Worldpanel Vietnam” trong năm 2007 cũng cho thấy, chỉ 33% dân số nông thôn sử dụng điện thoại di động (bằng một nửa so với thành thị). Internet còn ở bước sơ khai với 1% dân số nông thôn sử dụng (thành thị cũng chỉ đạt 4,5%). Việc gắn kết trải nghiệm từ PC sang Web và ngược lại cũng như từ Web hay PC sang Mobile là chiến lược lâu dài Zing cần làm trong những năm tới để dẫn đầu trong thị trường dịch vụ trên Mobile.

Hai hình thức quảng cáo

Dựa trên khảo sát của ACNielsen Việt Nam, tỉ lệ người truy cập internet cho các mục đích: đọc tin tức 75%, chơi game trực tuyến 50%, chat và email 30%, nghiên cứu và học tập 20%… mua bán và kiếm việc qua mạng chỉ 7%. Với việc trau chuốt mười ba sản phẩm còn tồn tại sau giai đoạn một và sự bắt đầu của dịch vụ quảng cáo trên Zing, VinaGame thể hiện tham vọng thu phí từ loại hình quảng cáo hiển thị khá rõ nét.

Hiện tại Zing cũng như hầu hết các mạng xã hội khác tại Việt Nam sử dụng phương thức quảng cáo hiển thị và cưỡng bức người sở hữu trang chấp nhận. Chúng ta đều hiểu Zing được tạo ra để phục vụ cộng đồng và giá trị nội dung do trí tuệ tập thể người dùng đem lại nên việc Zing Advertise đặt quảng cáo trên Zing sẽ làm người tạo giá trị cảm thấy bị xâm phạm quyền sử dụng và sở hữu. Hãy nhớ lại giới trẻ tại thành thị chú ý đến thương hiệu để chứng tỏ mình ở trong một nhóm, một tầng lớp nào đó. Họ cũng rất quan tâm đến người khác đánh giá mình và sản phẩm, dịch vụ mà bạn bè hoặc người quen đánh giá. Điều này đã định hình phong cách tiêu dùng của họ. Zing cũng vậy, Zing đã tạo ra những mối quan hệ trực tuyến và nó có thể bán quảng cáo dựa trên lòng tin vào nhãn trong mạng lưới người dùng. Tuy nhiên người dùng trẻ Việt Nam đại đa số vẫn đồng ý với hình thức quảng cáo cho họ quyền chấp nhận nên Zing có thể ứng dụng hai hình thức quảng cáo:

Quảng cáo tự phục vụ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tự tạo tài khoản trên Zing, Zing sẽ cung cấp một tài khoản tương tự như tài khoản của người dùng bình thường nhưng họ sẽ có khả năng nâng cấp tài khoản để sử dụng các công cụ hỗ trợ marketing tới mạng lưới khách hàng trong mạng lưới của họ. Với hình thức quảng cáo này, đơn vị quảng cáo sẽ không cần tới nhà môi giới, tự họ sử dụng các công cụ hỗ trợ quảng cáo của Zing để phục vụ công việc của họ. Với hình thức này, Zing cần tuân thủ theo chuẩn banner của IAB để các international agencies có thể tham gia vào cuộc chơi.

Xa hơn hình thức này, Zing nên cho phép người dùng tự tạo Nhóm để phục vụ một tôn chỉ của họ và hình thức này có công cụ cho phép quảng cáo theo hình thức tài trợ cho sở thích chung của nhóm.

Quảng cáo dựa trên lòng tin. Khi 123mua được tích hợp vào Nhóm cổng thông tin, mạng xã hội hoặc Nhóm giao tiếp, công việc, điều này có nghĩa hành vi xem hàng hoá của thành viên Zing được theo dõi và thống kê. Bằng việc sử dụng tính năng hiển thị nhãn hoặc sản phẩm/ dịch vụ mà thành viên đã xem trong Trang cá nhân, Tình trạng, Cập nhật và gửi đến những người trong cùng mạng lưới. Hình thức này hiệu quả hơn quảng cáo thông thường do các nhãn/ sản phẩm/ dịch vụ được người thân quen của người tiêu dùng trẻ giới thiệu. Độ tin cậy cao dẫn đến quyết định mua hàng được đưa ra dễ dàng hơn, đồng thời hình thức quảng cáo này cũng dễ dàng kích thích người nhận quảng cáo kể với bạn bè. Điều này giúp tăng doanh thu của 123mua và hiệu quả quảng cáo trên Zing. Cách tính giá quảng cáo dựa trên hình thức CPM, CPC. Hình thức này cũng có thể gia tăng thêm doanh thu bằng việc cho phép bán gói quảng cáo theo nhân khẩu học hoặc Trang cá nhân cho các Doanh nghiệp sở hữu nhãn/ sản phẩm/ dịch vụ. Phần đông, người tiêu thụ quảng cáo tại Việt Nam nhận thức còn thấp, mua bán theo tâm lý bầy đàn nên hình thức quảng cáo này có đất dụng võ.

Hai hình thức quảng cáo trên chỉ có thể tốt trong điều kiện nhận thức của người quảng cáo được cải thiện, họ nhìn thấy lợi ích rõ rệt từ việc quảng cáo trên Zing thông qua các chỉ số media truyền thống. Việc này dẫn đến Zing hoặc hiệp hội quảng cáo Việt Nam cần phát triển một cơ sở lý luận giúp người quảng cáo thấy các chỉ số Web dễ hiểu và gần gũi với họ. Và việc tiếp theo là các hoạt động như PR, phát triển hệ thống bán hàng, … để đào tạo khách hàng tiềm năng trong một thời gian đủ dài. Điều này cần làm song song với việc xây dựng hệ thống chỉ số đo lường media trên Zing nếu không tiền vẫn cứ nhảy múa trước mắt mà không thể lấy được.

Quảng cáo trực tuyến với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam vẫn là hình thức khá xa vời. Việc áp dụng hình thức Bạn nhìn thấy gì bạn sẽ có như vậy đối với dịch vụ Quảng cáo trên Zing sẽ giúp người mua quảng cáo dễ ra quyết định hơn. Zing nên có một hệ thống đặt quảng cáo, hệ thống này liệt kê toàn bộ các vùng có thể quảng cáo và giá kèm theo. Người mua quảng cáo có thể chọn vùng muốn đặt quảng cáo để xem liệu vùng đó đã được mua hay chưa, xem trước quảng cáo họ chọn trên trang giả lập và giá tương ứng.

Với Zing Advertise, những người làm Marketing trở thành một phần của cộng đồng, cam kết với họ và tham gia vào các cuộc đối thoại. Họ không còn làm Marketing để dẫn khách hàng mục tiêu đến Site của họ, mà họ phải ở với khách hàng tại xã hội trực tuyến của họ.

Nguyễn Ngọc Phương‘s Blog

Đi tìm những ý tưởng thay đổi thế giới!

Filed Under (DSI-Ecomerce, Tin tức) by dearboy9x9 on 13-11-2008

Tagged Under : , ,

Cuộc thi “Ý tưởng số” do trung tâm Phát Triển Thương Mại Điện Tử (bộ Công Thương) phát động từ tháng 5/2008, dự kiến tổng kết và phát giải vào tháng 12/2008. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cuộc thi này, TGVT-seri B đã có cuộc trao đổi với ông Trần Hữu Linh, phó cục trưởng cục TMĐT và CNTT, bộ Công Thương.

Mục đích, ý nghĩa của cuộc thi này là gì thưa ông?

Ông Trần Hữu Linh

Tại diễn đàn TMĐT Việt Nam năm 2007 (Vebiz 2007), nhiều sinh viên đã bày tỏ hy vọng trở thành doanh nhân thành đạt trong lĩnh vực TMĐT. “Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay; các ước mơ luôn cần được nâng cánh” chính là ý tưởng khởi đầu cho chương trình kết nối ý tưởng kinh doanh TMĐT của giới trẻ với các tổ chức và DN trong nhiều lĩnh vực. Chương trình “Sinh viên với TMĐT 2007″ đã thành công. Từ năm 2008, chương trình này được đổi thành cuộc thi “Ý tưởng số” với mục tiêu thu hút sự tham gia rộng rãi của các bạn trẻ yêu thích và say mê TMĐT. Mục đích của cuộc thi là phổ biến, tuyên truyền rộng rãi, nâng cao nhận thức xã hội về TMĐT, đẩy mạnh hoạt động học tập và đào tạo với thực tiễn kinh doanh TMĐT. Cuộc thi tạo cơ hội cho thí sinh thể hiện ý tưởng về khả năng ứng dụng TMĐT, qua đó tìm kiếm, phát hiện và bồi dưỡng những tài năng thành nguồn nhân lực cho xã hội.

Những ý tưởng đoạt giải năm 2007 có được ứng dụng trong cuộc sống?

Trong năm đầu tiên tổ chức, chương trình có 223 tác phẩm dự thi, 166 thí sinh/nhóm thí sinh tham dự, sự góp mặt của 31 trường đại học trên cả nước. 14 tác phẩm xuất sắc đã được vinh danh trong đêm chung kết. Hai trong số đó đã được hiện thực hoá và bước đầu khẳng định được giá trị của mình. Thẻ ưu đãi đa năng SIVI CARD của hai tác giả Lê Việt Hưng và Phạm Thu Hương, ĐH Ngoại Thương Hà Nội, dưới sự bảo trợ của PayNet đã trở thành một hình thức tiêu dùng mới nhiều lợi ích được giới trẻ hào hứng đón nhận. Hiện nay, SIVI CARD đã có hơn 1.500 điểm chấp nhận thẻ tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP.HCM. Trong năm 2008, dự tính số điểm chấp nhận thẻ sẽ là 3.000 – 5.000. Bạn Trần Nam Thanh, ĐH Bách Khoa Đà Nẵng, trên cơ sở ý tưởng độc đáo về kinh doanh qua mạng đã được công ty cổ phần Giải Pháp Công Nghệ Tada đỡ đầu thành lập mô hình kinh doanh riêng và gặt hái được nhiều thành công.

Ông Quang Nguyễn - giám đốc DFJ VinaCapital L.P - giám khảo của cuộc thi: “Chúng tôi tham gia với mong muốn có thể tìm kiếm được những ý tưởng làm thay đổi thế giới như Google, eBay, Youtube… và đó cũng là cơ hội để chúng tôi đầu tư. Tất nhiên là với một cuộc thi còn mới mẻ như thế này thì khó có thể tìm ngay ra những ý tưởng như vậy. Thế nhưng, ít nhất thì chúng ta cũng đã bắt đầu và phải đi tìm thì mới thấy!”.

Theo ông, làm thế nào để ý tưởng không bị đánh cắp khi tham gia “Ý tưởng số”?

Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm khi tham gia đối thoại cùng ban tổ chức chương trình. Chúng tôi cam kết những ý tưởng khi tham gia chương trình sẽ được bảo mật cao và không được phép sử dụng nếu không có sự đồng ý của tác giả. Những ý tưởng có thể đi vào cuộc sống thì tên tuổi người đề ra ý tưởng sẽ được xuất hiện song song cùng sản phẩm hoàn chỉnh do người đó nghĩ ra. Cũng cần phải nói rõ rằng, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản quy định để bảo hộ cho những ý tưởng. Vì vậy, để ý tưởng sớm thành hiện thực và được pháp luật bảo hộ, chúng tôi cam kết trở thành cầu nối để có những đầu tư hợp lý từ các doanh nghiệp. Thông qua hoạt động này, ý tưởng của họ sẽ nhanh chóng trở thành hiện thực.
Cảm ơn ông !

theo pcworld.com.vn